Trang chủ Đăng nhập
DANH MỤC
    Nghị định
    Quyết định Thủ tướng CP
    Thông tư liên tịch
    Thông tư

    Quy định về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng lưới độ cao, QCVN 11:2008/BTNMT

    Chương 1. Điều 1

    National technical regulation on establishment of leveling network Phần I. QUY ĐỊNH CHUNG 1. Phạm vi điều chỉnh Quy chuẩn này quy định các yêu cầu kỹ thuật trong việc xây dựng Lưới độ cao Quốc gia hạng I, II, III và IV; là cơ sở pháp lý để quản lý, thẩm định và phê duyệt các dự án, luận chứng kinh tế kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật xây dựng Lưới độ cao. ...

    Chương 1. Điều 2

    2. Đối tượng áp dụng Cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xây dựng lưới độ cao Quốc gia phải tuân thủ các quy định của Quy chuẩn kỹ thuật này....

    Chương 1. Điều 3

    3. Giải thích từ ngữ: Trong quy chuẩn kỹ thuật này, các từ , ngữ dưới đây được hiểu như sau: Lưới độ cao quốc gia: là lưới khống chế về độ cao thống nhất trong toàn quốc. Phương pháp đo cao hình học: là phương pháp đo chênh cao giữa 2 điểm bằng một tia ngắm nằm ngang của máy thuỷ chuẩn. Mực chuẩn “0”: Là mực nước biển trung bình từ quan trắc nhiều năm tại trạm nghiệm triều khởi tính. Độ cao chuẩn: Độ cao chuẩn của một điểm là khoảng cách tính theo phương dây dọi (đường sức trọng trường trái đất) từ điểm đó đến mặt Kvazigeoid. Mốc cơ bản: Là mốc độ cao có thiết kế đặc biệt, có độ ổn định cao được chôn chìm ở những vị trí quan trọng hoặc chôn cách nhau theo một khoảng cách quy định trên đường độ cao. Mốc thường: Là mốc độ cao được thiết kế theo quy định thông thường được chôn cách nhau khoảng từ 3 đến 6 km tùy theo điều kiện địa hình trên tất cả các đường độ cao hạng I, II, III và IV. Điểm nút: Là giao điểm của ít nhất 3 đường độ cao cùng cấp hạng. Điểm tựa: Là điểm độ cao hạng cao hoặc cùng hạng đã có từ trước mà điểm đầu hoặc điểm cuối của đường độ cao mới được đo nối vào. Sai số khép: Là chênh lệch giữa giá trị đo được sau hiệu chỉnh với giá trị độ cao gốc. ...

    Chương 2. Điều 1

    Phần II. QUY ĐỊNH KỸ THUẬT 1. Quy định kỹ thuật chung về Lưới độ cao quốc gia 1.1. Lưới độ cao quốc gia là lưới khống chế về độ cao thống nhất trong toàn quốc, được đo theo phương pháp đo cao hình học, là cơ sở để xác định độ cao phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. 1.2. Lưới độ cao quốc gia được xây dựng theo trình tự từ hạng I, II đến III, IV. 1.3. Lưới độ cao hạng I, II quốc gia là cơ sở để phát triển và khống chế các lưới độ cao hạng III, IV. Lưới độ cao hạng III, IV trực tiếp phục vụ cho các mục đích khác nhau. 1.4. Lưới độ cao quốc gia lấy mực nước biển trung bình quan trắc nhiều năm tại trạm nghiệm triều Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng) làm mực chuẩn “0” về độ cao. Độ cao trong lưới độ cao quốc gia được tính theo hệ thống độ cao chuẩn. 1.5. Lưới độ cao hạng I gồm những đường hạng I nối với nhau. Lưới độ cao hạng II gồm những đường hạng II nối với nhau hoặc đường hạng I và II nối với nhau tạo thành các vòng khép. Các đường độ cao hạng I, II được bố trí dọc theo đường giao thông chính, ở những vùng đi lại khó khăn thì bố trí dọc theo đường đất ổn định hoặc dọc theo bờ sông lớn. 1.6. Chu kỳ đo lặp lại tất cả các đường độ cao hạng I, II từ 20 đến 25 năm; trong trường hợp do hoạt động kiến tạo địa chất ảnh hưởng trực tiếp đến mạng lưới độ cao Quốc gia thì có thể rút ngắn thời gian của chu kỳ đo lặp. 1.7. Lưới độ cao hạng III, IV được phát triển từ các mốc hạng I, II và được thiết kế thành các đường đơn, hoặc thành đường vòng khép kín.Trường hợp địa hình thật khó khăn đường độ cao hạng III, IV được thiết kế thành đường treo (không khép với hạng cao). 1.8. Chiều dài đường đo độ cao các hạng (tính theo km) không được dài hơn quy định nêu ở bảng 1. Bảng 1: Chiều dài tối đa đường độ cao theo cấp hạng Cấp hạng Đường Vùng Đồng bằng Trung du, núi II III IV II III IV Giữa điểm tựa với điểm tựa Giữa điểm tựa với điểm nút Giữa điểm nút với điểm nút 270 150 110 65 - 70 40 - 45 25 - 30 16 - 20 9 - 15 6 - 10 500 - - 200 150 100 100 75 50 1.9. Đường độ cao hạng I được xây dựng với độ chính xác cao nhất bằng thiết bị và công nghệ tốt nhất tại thời điểm đó. Đường độ cao hạng I được đo đi, đo về bằng hai hàng mia (đối với máy thủy chuẩn điện tử đo 1 hàng mia) và đảm bảo sai số trung phương ngẫu nhiên của chênh cao trung bình đo đi đo về trên 1 km không được vượt quá 0,50 mm (đối với máy thủy chuẩn điện tử là 0,40 mm), sai số trung phương hệ thống không được vượt quá 0,05 mm. 1.10. Đường độ cao hạng II được đo đi đo về bằng một hàng mia và đảm bảo sai số trung phương ngẫu nhiên của chênh cao đo đi đo về trên 1 km không được vượt quá 1,00 mm, sai số trung phương hệ thống không được vượt quá 0,15 mm. Cách tính sai số trung phương ngẫu nhiên và sai số hệ thống theo quy định tại Phụ lục 2. 1.11. Đường độ cao hạng III được đo đi, đo về bằng một hàng mia. Đường độ cao hạng IV chỉ đo một chiều bằng một hàng mia. Đối với đường hạng IV treo, cần phải đo ngắm theo một trong các phương pháp dưới đây: a) Đo đi và đo về; b) Đo theo một chiều bằng hai hàng mia. 1.12. Sai số khép đường hoặc khép vòng của mỗi cấp hạng không được lớn hơn quy định tại bảng 2 dưới đây (đơn vị tính là mm). Bảng 2: Quy định giới hạn sai số khép đường, khép vòng độ cao theo cấp hạng Vùng Cấp hạng Ghi chú I II III IV Địa hình bằng phẳng (Trung bình dưới 15 trạm/1 km) Địa hình dốc núi (Trung bình trên 15 trạm/1 km) ± 2 ± 3 ± 4 ± 5 ± 10 ± 12 ± 20 ± 25 L tính bằng km 1.13. Khi tính chênh cao đo được giữa các mốc độ cao hạng I, II và hạng III ở vùng núi, vùng mỏ phải đưa các số hiệu chỉnh chiều dài mia, hiệu chỉnh nhiệt vào kết quả đo và tính chuyển về hệ độ cao chuẩn. Khi tính chuyển về hệ độ cao chuẩn thì số cải chính δch phải cộng vào chênh cao đo được trước khi tính sai số khép. Trường hợp chưa đủ số liệu trọng lực để tính chuyển về hệ độ cao chuẩn thì chênh cao đo được phải hiệu chỉnh về hệ độ cao gần đúng (δch)gđ. 1.14. Khi đo chuyền độ cao tuỳ theo yêu cầu về độ chính xác của điểm chuyền độ cao để quyết định cấp hạng đo ngắm. Trường hợp địa hình không cho phép được đo rẽ nhánh. Đo độ cao rẽ nhánh phải bắt đầu từ điểm có cấp hạng cao hơn. Chiều dài đường nhánh không vượt quá 50 km. 1.15. Trên đường độ cao các hạng phải chôn mốc hoặc gắn dấu mốc lâu dài để lưu giữ lại độ cao. Phân biệt hai loại mốc độ cao: mốc cơ bản (mốc gắn 2 dấu mốc) và mốc thường (mốc gắn 1 dấu mốc). Khoảng cách giữa hai mốc gọi là đoạn, một số đoạn tạo thành chặng. 1.16. Mốc độ cao lâu dài gồm 2 loại: a) Loại “mốc cơ bản” có loại chôn chìm và loại gắn vào vỉa đá ngầm. Cách mốc cơ bản khoảng 50 - 150 m phải chôn một mốc thường . b) Loại “mốc thường” có loại chôn chìm, loại gắn gắn vào vỉa đá ngầm, và loại gắn vào chân tường nhà cao tầng, móng cầu hoặc các vật kiến trúc kiên cố khác. 1.17. Mốc cơ bản được chôn cách nhau khoảng 50 - 60 km trên đường hạng I, II và tại các điểm nút, gần các trạm nghiệm triều, các trạm thủy văn của sông và hồ lớn, các công trình xây dựng lớn. 1.18. Trên đường độ cao các hạng (kể cả đường nhánh) mốc thường được chôn cách nhau 3 - 5 km ở đồng bằng, cách nhau 4 - 6 km ở vùng núi. Ở vùng khó khăn khoảng cách giữa hai mốc được kéo dài đến 8 km. Ở thành phố hoặc nơi xây dựng công trình lớn cũng có thể rút ngắn khoảng cách trên cho thích hợp. 1.19. Tên đường độ cao gồm tên cấp hạng (viết bằng số La Mã) tiếp đến là tên địa danh nơi đặt mốc đầu và mốc cuối của đường độ cao thứ tự ưu tiên theo địa danh hành chính và không trùng với tên đường đã có. 1.20. Tên điểm độ cao gồm 3 phần: Tên cấp hạng viết bằng chữ số La Mã, tiếp đến tên đường viết tắt bằng chữ in hoa trong dấu ngoặc đơn và cuối cùng là tên thứ tự điểm viết bằng chữ số Ả Rập. 1.21. Mốc độ cao các hạng phải lập ghi chú điểm theo quy định tại Phụ lục 4. 1.22. Máy, mia dùng để đo chênh cao và thước Giơ-ne-vơ phải được kiểm nghiệm khi đạt yêu cầu kỹ thuật với cấp hạng đo mới được đưa vào sản xuất, kết quả kiểm nghiệm phải ghi vào lý lịch máy, giấy chứng chỉ của thước và mia. ...

    Chương 2. Điều 2

    2. Thiết kế lưới độ cao 2.1. Khi thiết kế lưới độ cao phải tuân theo các quy định kỹ thuật nêu ở quy chuẩn này. 2.2. Quá trình thiết kế lưới độ cao được chia làm 3 bước: - Thiết kế sơ bộ: Thu thập tài liệu cũ về độ cao, khí tượng, thủy văn, địa chất, dân cư, giao thông thủy bộ v.v…Trên cơ sở phân tích đánh giá tài liệu thu thập thiết kế sơ bộ mạng lưới; - Khảo sát thực địa; - Thiết kế chính thức. 2.3. Nội dung bản thiết kế kỹ thuật gồm hai phần chính: - Phần thiết kế kỹ thuật; - Phần dự toán giá thành. 2.4. Lưới độ cao hạng I, II được thiết kế tổng thể trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/500.000 hoặc 1/200.000, thiết kế kỹ thuật trên bản đồ 1/100.000 hoặc 1/50.000. Lưới độ cao hạng III, IV được thiết kế kỹ thuật trên bản đồ 1/50.000. Chọn đường tốt nhất để thiết kế lưới độ cao hạng I trên toàn lãnh thổ. Mạng lưới độ cao hạng II về cơ bản phải lập riêng cho từng vùng lãnh thổ và phải dựa vào hạng I tạo thành các vòng khép. Trên cơ sở mạng lưới độ cao hạng I, II và các đường độ cao hạng III, IV đã có tiến hành thiết kế các đường hạng III, IV. 2.5. Khi thiết kế các đường độ cao phải dùng các ký hiệu để biểu thị các điểm tựa, điểm độ cao cơ bản, điểm độ cao thường. Trên bản đồ thiết kế phải vẽ các đường độ cao đã có trong khu vực. 2.6. Các đường độ cao được thiết kế trên bản đồ cần phải thỏa mãn các điều kiện sau: - Đường có độ dốc nhỏ nhất để có số trạm đo ít nhất. - Đường dễ đi nhất để thuận tiện cho đo ngắm và vận chuyển. 2.7. Điểm đầu và cuối các đường độ cao phải nối vào các điểm độ cao cũ (gọi là điểm tựa) hạng cao hơn hoặc cùng hạng. Các đường độ cao hạng I nếu nối với nhau nhất thiết phải nối vào các mốc cơ bản và phải đo kiểm tra một hoặc hai đoạn kề bên. Các đường đo hạng I cần phải tạo thành các vòng khép. Các đường độ cao hạng II cũng phải tạo thành vòng khép với nhau hoặc với các đường hạng I. Các đường độ cao hạng III, IV phải tạo thành các vòng khép và tựa vào các điểm hạng I, II. 2.8. Điểm tựa và điểm nút của các đường độ cao các hạng đều phải được vẽ sơ đồ theo quy định tại phụ lục 7. 2.9. Khi đo lặp phải tiến hành điều tra, khảo sát không được tự ý thay đổi thiết kế cũ. Các mốc độ cao cũ chất lượng còn đáp ứng yêu cầu của cấp hạng thiết kế mới thì vẫn được sử dụng làm mốc độ cao mới và tiến hành đo ngắm bình thường. ...

    Chương 2. Điều 3

    3. Khảo sát, chọn điểm trên các đường độ cao 3.1. Căn cứ thiết kế sơ bộ tiến hành khảo sát thực địa để đánh giá tổng thể và hoàn chỉnh mạng lưới độ cao đã thiết kế. 3.2. Trường hợp sử dụng lại các đường độ cao cũ cần phải kiểm tra khả năng sử dụng lại các mốc đó, kiểm tra vị trí điểm, chất lượng loại mốc đã chôn có thích hợp với cấp hạng không, nếu đạt yêu cầu thì lập lại ghi chú điểm và đánh dấu vị trí điểm trên bản đồ. 3.3. Trước khi đo lặp lại lưới độ cao theo chu kỳ, cần khảo sát đánh giá hiện trạng toàn bộ các mốc độ cao của lưới cũ, lập kế hoạch, khôi phục, tu sửa các mốc độ cao. 3.4. Không được coi những mốc chưa tìm thấy là những mốc bị mất. Mốc nào bị mất phải lập biên bản ghi rõ lý do cụ thể. 3.5. Trong quá trình khảo sát phải thu thập đầy đủ các tài liệu về điều kiện tự nhiên xã hội về địa bàn thi công (nhiệt độ, số ngày nắng, mưa, thời gian của các mùa mưa, mùa khô, tình hình gió mùa, tình hình chất đất, mực nước ngầm, tình hình vật liệu xây dưng, phương tiện giao thông, trật tự trị an, y tế, v.v…) để quyết định phương án thi công có lợi nhất. 3.6. Khi khảo sát đường đo qua vật chướng ngại phải vẽ sơ đồ bãi đo, lập báo cáo kỹ thuật và dự định phương án đo. 3.7. Khi chọn các đường đo phải bảo đảm thỏa mãn hai điều kiện đã ghi ở điểm 2.6 đồng thời cần tránh đường độ cao qua các vùng đất xốp, đầm lầy, bãi cát, qua sông lớn, hồ ao, khe núi và vật chướng ngại khác. 3.8. Vị trí chọn chôn mốc các điểm độ cao phải ổn định, lâu dài có nền vững chắc, thuận tiện cho việc đo ngắm. 3.9. Không được xây dựng mốc độ cao ở những nơi có nền địa chất không ổn định (dễ bị ngập nước, mức nước ngầm quá cao, nơi đất lở, sườn đất trượt, những nơi gần nghĩa địa, gò đống, đê, bờ sông bãi bồi), trong phạm vi chỉ giới đường giao thông, những nơi sắp xây dựng và khai thác, những nơi đá vôi bị nước xói mòn, trên các vật kiến trúc không chắc chắn. 3.10. Sau khi chọn xong địa điểm chôn mốc phải đóng cọc ghi tên đường đo, ghi số hiệu điểm (nếu là dấu gắn vào các vật kiến trúc thì dùng sơn đánh dấu vị trí mốc) đồng thời điền viết đầy đủ nội dung vào ghi chú điểm. 3.11. Tài liệu cần phải giao nộp gồm: - Ghi chú điểm của tất cả các loại mốc; - Sơ đồ mạng lưới các đường độ cao; - Bản báo cáo kỹ thuật trong đó có nêu: + Những vấn đề thay đổi so với thiết kế sơ bộ (có biên bản kèm theo); + Những vấn đề cần lưu ý khi chôn mốc và đo ngắm. ...

    Chương 2. Điều 4

    4. Mốc và tường vây 4.1. Trên các đường đo cao phải chôn các loại mốc độ cao theo vị trí đã chọn. Trước khi chôn mốc nếu thấy vị trí đã chọn không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật nữa thì chọn lại và vẽ lại ghi chú điểm, sơ đồ đường đo cao và các tài liệu khác có liên quan. Việc xây dựng mốc độ cao hạng I, II được tiến hành sau khi chọn xong toàn bộ đường đo cao. 4.2. Mốc cơ bản là loại mốc chôn chìm được gắn 2 dấu mốc, mốc được làm bằng bê tông cốt thép, gồm một trụ hình chóp cụt gắn liền với bệ đáy, quy cách xem hình 1; Ở những nơi có vỉa đá rắn nằm dưới mặt đất từ 0,4 – 1,0 m thì lợi dụng vỉa đá đó để làm mốc cơ bản, quy cách như hình 2. 4.3. Mốc thường là loại mốc chôn chìm được gắn 1 dấu mốc, mốc được làm bằng bê tông, quy cách như hình 3 tại phụ lục 1, hoặc có thể gắn dấu mốc thường vào đá ở những nơi có vỉa đá cứng, quy cách như hình 4 tại phụ lục 1, hoặc vào các công trình kiến trúc kiên cố như chân tường nhà cao tầng, móng cầu bê tông, lô cốt hoặc vách đá thẳng đứng v.v…, quy cách như hình 6 tại phụ lục 1; Ở vùng đất yếu, đất phù sa, đất mùn, cát chảy… dùng loại mốc thường vùng đất yếu, quy cách như hình 5 tại phụ lục 1. Các loại mốc trên những đường độ cao cũ nếu xét thấy chắc chắn, đảm bảo chất lượng thì có thể lợi dụng các loại mốc đó để thay thế cho các loại mốc thường . 4.4. Dấu mốc có ba loại: dấu bằng sứ dùng gắn vào mốc thường hoặc mặt trên phần đế mốc cơ bản quy cách như hình 7 tại phụ lục 1. Dấu bằng kim loại gắn vào chính giữa trên mặt mốc cơ bản quy cách như hình 8 phụ lục 1. Dấu gắn vào các công trình kiến trúc kiên cố, quy cách như hình 6 phụ lục 1. 4.5. Tất cả các loại mốc lâu dài (trừ các mốc gắn vào vật kiến trúc không thể xây tường vây) đều phải có nắp đậy quy cách như hình 9 và tường vây bảo vệ quy cách như hình 11, 12. Riêng mốc cơ bản còn có tấm báo hiệu hoặc lớp đá báo hiệu nếu là mốc cơ bản xây dựng trên vỉa đá ngầm, quy cách như hình 2. 4.6. Bê tông dùng để xây dựng mốc độ cao phải đạt mác M25 (39 TCVN 6025 1995). 4.7. Mốc bê tông, tấm báo hiệu, nắp đậy và tường vây đều phải đổ bê tông vào khuôn gỗ hoặc khuôn thép lá, khi đổ phải đầm chặt từng lớp một để khỏi bị rỗ. Chính giữa mặt trên trụ hình chóp cụt gắn dấu mốc, dùng bộ khuôn chữ và số để tu bổ mặt mốc và mặt tường vây, quy cách như hình 11, 12, 13. Nếu là mốc cơ bản thì đế dưới gắn một dấu sứ tại vị trí giữa của cạnh phía Bắc. Đổ mốc, tường vây xong phải tưới nước 2 - 3 lần, lúc tháo khuôn ra tưới nước một lần nữa. Khi chôn mốc ở vùng đồng chua, nước mặn phải quét hắc ín ở phía ngoài mốc để chống ăn mòn. 4.8. Thời gian từ khi đổ bê tông đến khi tháo khuôn đối với mốc thường ít nhất là 24 giờ, mốc cơ bản ít nhất là 48 giờ. 4.9. Thời gian được phép đo ngắm đối với mốc cơ bản và mốc thường trên đường hạng I, II phải qua một mùa mưa; mốc thường trên các đường hạng III, IV sau 15 ngày; dấu mốc gắn vào các công trình kiên cố sau 48 giờ. 4.10. Trước khi thực hiện xây dựng mốc, phải giải quyết các thủ tục về sử dụng được đất hoặc sử dụng công trình làm nơi đặt mốc, bảo đảm tiết kiệm đất và sử dụng lâu dài. Sau khi hoàn thành việc xây dựng dấu mốc phải lập biên bản bàn giao mốc độ cao kèm theo sơ đồ vị trí và tình trạng dấu mốc tại thực địa cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn với sự có mặt của chủ sử dụng đất hoặc chủ sở hữu công trình nơi đặt dấu mốc theo mẫu quy định tại phụ lục 5. ...

    Chương 2. Điều 5

    5. Yêu cầu kỹ thuật đo chênh cao hạng I 5.1. Máy và mia 5.1.1. Để đo chênh cao hạng I dùng máy thủy chuẩn quang cơ với mia inva, máy thủy chuẩn điện tử có bộ mia mã vạch và phải thỏa mãn điều kiện sai số trung phương ngẫu nhiên của chênh cao trung bình đo đi đo về trên 1 km không được vượt quá 0,50 mm; khi dùng các loại máy thủy chuẩn quang cơ (có ống bọt nước dài) và những máy có độ chính xác tương đương thì đặc tính kỹ thuật của máy phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Hệ số phóng đại của ống ngắm từ 40 lần trở lên (thủy chuẩn điện tử từ 30 lần trở lên). - Giá trị khoảng chia trên mặt ống bọt nước dài không vượt quá 12”/2 mm, hình ảnh khi bọt nước nằm ngang phải nhìn thấy được trong ống kính. - Giá trị vạch khắc vành đọc số của bộ đo cực nhỏ 0,05 mm và 0,10 mm. 5.1.2. Khi dùng máy thuỷ chuẩn thế hệ mới khác loại quy định trong điểm 5.1.1 thì trước khi đưa vào sử dụng để đo, máy phải được kiểm định và được Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam xác nhận. 5.1.3. Đo chênh cao hạng I bằng máy quang cơ dùng mia inva dài 3 m có khắc vạch thành thang chính và thang phụ đồng bộ với máy đo. Sai số khoảng chia 1 m của các thang số không được vượt quá 0,10 mm, đối với mia dùng để đo ở miền núi sai số này không được vượt quá 0,05 mm. Đối với máy thủy chuẩn điện tử dùng bộ mia mã vạch đã được kiểm tra khoảng cách từng dm, từ dm thứ 5 đến dm thứ 25 trên bãi kiểm tra chuẩn. Trên mia gắn ống nước tròn có giá trị khoảng chia từ 10” - 12”/2 mm. Dựng mia trên các cọc sắt đã đóng xuống đất ở độ sâu thích hợp. Cấu tạo và chất lượng cọc sắt phải đảm bảo ổn định về độ cao trong quá trình đo chênh cao. 5.1.4. Trước và sau đợt sản xuất phải kiểm nghiệm mia, xác định phương trình thước Giơ-ne-vơ trên máy MK1. Phương trình này phải bảo đảm xác định chiều dài của thước với sai số nhỏ hơn 0,01 mm. Ở nhiệt độ 20°C, chiều dài thước Giơ-ne-vơ không vượt quá giới hạn (1000 ± 0,05) mm. 5.1.5. Khi đo chênh cao hạng I phải đo nhiệt độ không khí với nhiệt kế có giá trị khoảng chia không lớn hơn 0,2°C. Ở mỗi trạm máy phải đọc nhiệt độ không khí ngang tầm máy một lần. 5.2. Kiểm tra và kiểm nghiệm máy thủy chuẩn 5.2.1. Trước khi đo thủy chuẩn hạng I, phải kiểm nghiệm máy theo các nội dung sau: - Xem xét máy; - Kiểm tra và hiệu chỉnh các ốc cân máy; - Kiểm tra máy quay quanh trục đứng có nhẹ nhàng không; - Kiểm tra và hiệu chỉnh ống bọt nước tròn; - Kiểm tra và hiệu chỉnh vị trí đặt lưới chỉ. Các mục từ 1- 5 (theo quy định tai phụ lục 8); - Kiểm tra và hiệu chỉnh vị trí tương hỗ giữa trục ngắm và trục ống bọt nước dài (theo quy định tai phụ lục 9); - Kiểm tra tính năng quang học của ống ngắm (theo quy định tai phụ lục 10); - Kiểm nghiệm giá trị khoảng chia ống bọt nước dài, xác định sai số trung phương trùng hợp hình ảnh hai đầu bọt nước (theo quy định tai phụ lục 11); - Kiểm nghiệm sự hoạt động cơ học của bộ đo cực nhỏ và xác định giá trị khoảng chia của nó (theo quy định tai phụ lục 12); - Kiểm tra độ chính xác trục ngắm khi điều chỉnh tiêu cự (theo quy định tai phụ lục 13); - Xác định hệ số đo khoảng cách và sự không đối xứng của lưới chỉ (theo quy định tai phụ lục 14); - Xác định hệ số phóng đại của ống ngắm (theo quy định tai phụ lục 15); - Kiểm nghiệm sự hoạt động của vít nghiêng và xác định giá trị khoảng chia của nó (theo quy định tai phụ lục 16); - Đối với máy thủy chuẩn sử dụng công nghệ mới, ngoài những yêu cầu trên cần tuân thủ quy trình kiểm tra, kiểm nghiệm thiết bị theo hướng dẫn của nhà sản xuất. - Đo đường độ cao để kiểm tra máy (theo quy định tai phụ lục 17). 5.2.2. Trước và trong đợt sản xuất, người đo ngắm phải kiểm tra các mục sau (xem các phụ lục 8, 9, 11, 12, 13, 16): a) Trước đợt sản xuất phải kiểm tra và kiểm nghiệm: - Xem xét máy; - Kiểm tra và hiệu chính ống bọt nước tròn; - Kiểm tra và hiệu chỉnh các vị trí đặt ống bọt nước dài; - Xác định giá trị khoảng chia trên mặt ống bọt nước dài và sai số trung phương trùng hợp hình ảnh hai đầu bọt nước bằng mia; - Xác định giá trị khoảng chia và vành đọc số của bộ đo cực nhỏ bằng mia trên những khoảng cách khác nhau; - Kiểm tra độ chính xác trục ngắm khi điều chỉnh tiêu cự; - Kiểm tra sự hoạt động của vít nghiêng bằng mia, nếu người đo ngắm trực tiếp kiểm tra toàn diện máy thì không cần kiểm tra mục này. b) Trong thời gian sản xuất phải kiểm tra và kiểm nghiệm: - Kiểm tra và hiệu chỉnh ống bọt nước tròn (hàng ngày trước khi đo ngắm); - Kiểm tra và hiệu chỉnh vị trí đặt ống bọt nước dài (kiểm tra góc i) mỗi ngày một lần vào những buổi khác nhau, nếu qua một tuần đầu thấy ổn định thì cứ 10 – 15 ngày kiểm tra một lần. Nếu sau khi kiểm tra thấy góc i giao động quá 12” thì hiệu chỉnh để tiếp tục đo và phải ghi chú vào “điều quan trọng” để sau này xử lý. Trước và sau khi kết thúc một đường, sau mỗi lần hiệu chỉnh góc i, bộ phận lưới chỉ, sau mỗi đợt vận chuyển dài hoặc khi nhiệt độ thay đổi đột ngột thì phải kiểm tra lại mục này; - Xác định giá trị khoảng chia vạch đọc số của bộ đo cực nhỏ bằng mia trên những khoảng cách khác nhau; trước và sau đợt sản xuất và cứ hai tháng một lần; - Kiểm tra sự hoạt động của vít nghiêng (bằng mia) mỗi tháng một lần. 5.3. Kiểm tra và kiểm nghiệm mia thủy chuẩn 5.3.1. Kiểm tra và kiểm nghiệm toàn diện mia dùng để đo chênh cao hạng I gồm các mục sau: a) Kiểm tra toàn bộ bên ngoài và dải inva; b) Kiểm tra sức căng của dải inva (dùng lực kế có độ chính xác cao kiểm tra trước lúc đưa mia vào kiểm nghiệm). Lực căng của dải inva so với sức căng tiêu chuẩn phải nhỏ hơn 1/20 nếu vượt quá thì điều chỉnh lại bằng ốc điều chỉnh hoặc thay lò xo; c) Để có số liệu tính hiệu chỉnh mia thì trước và sau đợt sản xuất phải xác định chiều dài thực của các khoảng chia cách nhau một mét trên thang chính và thang phụ mia inva bằng máy MK1. Chênh lệch giữa chiều dài kiểm nghiệm và chiều dài lý thuyết không được vượt quá 0,10 mm. Trong đợt sản xuất và cứ cách 2 tháng một lần kiểm nghiệm mia bằng thước Giơ-ne-vơ, nhưng nếu nhiệt độ thay đổi đột ngột hoặc có sự nghi ngờ chiều dài mia thay đổi thì phải kiểm tra lại mục này. Nếu sai lệch giữa hai kết quả kiểm nghiệm bằng thước Giơ-ne-vơ và bằng máy MK1 vượt quá 0,1 mm thì phải kiểm tra lại hai lần nữa, nếu vẫn vượt thì đem mia kiểm nghiệm lại trên máy MK1 theo quy định tai phụ lục 18; d) Xác định sai số các khoảng chia dm trên thang chính và thang phụ, sai số này không được vượt quá 0,15 mm (theo quy định tai phụ lục 19); e) Kiểm nghiệm mặt đáy mia (theo quy định tai phụ lục 20) có trùng với vạch “0” của thang chính không; có vuông góc với trục đứng của mia không (kiểm nghiệm một lần trước đợt sản xuất). f) Xác định sự chênh lệch vạch “0” của cặp mia, sự chênh lệch giữa thang chính và thang phụ của từng mia (theo quy định tai phụ lục 21); g) Kiểm nghiệm ống nước tròn trên mia (kiểm nghiệm hàng ngày trước khi đo, theo quy định tai phụ lục 22); h) Xác định độ võng của dải inva, nếu độ võng f lớn hơn 4 mm thì phải đổi mia khác hoặc phải cải chính chiều dài mia. Trước, sau khi đo và cứ cách hai tháng trong đợt sản xuất kiểm tra một lần, nếu nghi ngờ dải inva võng thì phải kiểm tra lại (theo quy định tai phụ lục 23). i) Đối với bộ mia mã vạch (fiber glass) mia phải được kiểm tra khoảng cách từng dm, từ dm thứ 5 đến dm thứ 25 trên bãi kiểm tra chuẩn sau mỗi đợt sản xuất, Chênh cao từng dm đo được so với chênh cao chuẩn không lớn hơn ± 0.3mm. 5.3.2. Tài liệu kiểm nghiệm máy, mia phải đóng thành quyển (máy riêng, mỗi cặp mia một quyển) nộp vào thành quả đo. 5.4. Đo chênh cao hạng I 5.4.1. Đo chênh cao hạng I phải đo đi và đo về theo hai hàng cọc dựng mia (Đối với máy thủy chuẩn điện tử đo theo 1 hàng mia). Hàng bên phải tạo thành đường bên phải, hàng bên trái tạo thành đường bên trái theo hướng đo. Đọc số trên máy theo phương pháp chập đọc. 5.4.2. Thứ tự thao tác trên trạm máy đo đi như sau: Đối với trạm lẻ: Đường bên phải Đường bên trái 1. Đọc số trên thang chính mia sau 2. Đọc số trên thang chính mia trước 3. Đọc số trên thang phụ mia trước 4. Đọc số trên thang phụ mia sau Các bước 5, 6, 7, 8 thao tác như ở các bước 1, 2, 3, 4 của đường bên phải Đối với máy thủy chuẩn điện tử 1. Đọc số lần1 trên mia mã vạch mia sau 2. Đọc số lần 1 trên mia mã vạch mia trước. 3. Đọc số lần 2 trên mia mã vạch mia trước. 4. Đọc số lần 2 trên mia mã vạch mia sau Đối với trạm chẵn: Đường bên phải Đường bên trái 1. Đọc số trên thang chính mia trước 2. Đọc số trên thang chính mia sau 3. Đọc số trên thang phụ mia sau 4. Đọc số trên thang phụ mia trước Các bước 5, 6, 7, 8 thao tác như ở các bước 1, 2, 3, 4 của đường bên phải. Đối với máy thủy chuẩn điện tử 1. Đọc số lần 1 trên mia mã vạch mia sau 2. Đọc số lần 1 trên mia mã vạch mia trước. 3. Đọc số lần 2 trên mia mã vạch mia trước. 4. Đọc số lần 2 trên mia mã vạch mia sau Khi đo về thứ tự đọc số tại trạm lẻ giống trạm chẵn của đo đi và trạm chẵn giống trạm lẻ của đo đi. 5.4.3.Thứ tự thao tác ở mỗi trạm máy như sau: a) Đặt máy, cẩn thận đưa bọt nước cân máy vào giữa; b) Hướng ống ngắm tới thang chính của mia cần ngắm: Đặt số đọc ở bộ đo cực nhỏ bằng 50, vặn vít nghiêng cho hình ảnh hai đầu bọt nước trùng hợp, đọc số đo khoảng cách theo chỉ trên và dưới (khi sử dụng máy WILD N3 cần cải chính hằng số khoảng cách theo bảng hiệu chỉnh của máy); c) Vặn vít nghiêng cho hình ảnh hai đầu bọt nước thật sự trùng hợp, vặn vành đo cực nhỏ để bộ chỉ hình nêm kẹp thật chính xác vạch chia gần nhất của thang chính, đọc số đọc trên mia và trên bộ đo cực nhỏ; d) Hướng ống ngắm tới thang chính của mia khác cùng hàng lặp lại các động tác như mục b và c; e) Dùng ốc vi chỉnh ngang đưa ống ngắm về thang phụ của mia ở mục d, vặn vít nghiêng đi ¼ vòng rồi vặn lại cho hình ảnh hai đầu bọt nước trùng hợp nhau, tiến hành kẹp vạch đọc số trên thang phụ và bộ đo cực nhỏ; f) Hướng ống ngắm về thang phụ của mia ngắm đầu tiên và làm theo thao tác như mục c; g) Chuyển mia sang hai cọc sắt hàng bên trái và thao tác lần lượt từ mục b đến mục g; Phải đợi cho hình ảnh hai đầu bọt nước thật sự trùng hợp và hoàn toàn ổn định mới được kẹp vạch và đọc số. Để tránh sai số hệ thống không được đọc số trên mia sớm hơn nửa phút sau khi dựng mia thẳng đứng; Trong thời gian chuyển trạm máy, mia sau khi chuyển lên làm mia trước của trạm sau, mia trước không chuyển nhưng phải nhấc ra khỏi cọc (đế) mia; Các kết quả đọc được phải ghi ngay vào sổ theo quy định tại phụ lục 24. 5.4.4. Đường đo độ cao hạng I được chia thành nhiều chặng, mỗi chặng dài từ 20 - 30 km bao gồm nhiều đoạn. Trường hợp đặc biệt chiều dài chặng có thể tăng lên, nhưng khi thấy sai số giữa đo đi và đo về của các đoạn cùng một loại dấu (âm hoặc dương) thì có thể giảm chiều dài chặng cho thích hợp. 5.4.5. Đo đi và đo về trong từng chặng phải được tiến hành đo theo khóa số 8, tức là nửa đầu của chặng đo theo hướng đo đi còn nửa thứ hai của chặng đo theo hướng đo về, sau đó thì tiến hành ngược lại. 5.4.6. Việc đo đi đo về trong cùng một chặng phải do cùng một người đo, cùng máy, cùng mia, cùng một loại cọc (hoặc đinh) và phải đo theo cùng một đường. 5.4.7. Số trạm máy trong một đoạn phải là số chẵn, số trạm đo đi và về phải bằng nhau. Khi qua đèo, đường sỏi đá, đo đi và về được chênh nhau từ hai đến bốn trạm. Số trạm phải ghi theo thứ tự từ 1 đến hết cho từng chiều đo trong mỗi đoạn. 5.4.8. Khi chuyển từ đo đi sang đo về phải theo đúng các quy định sau: - Đặt và cân lại máy; - Mia A và mia B đổi chỗ cho nhau. 5.4.9. Việc đo đi và đo về trong từng đoạn phải được tiến hành vào hai buổi khác nhau của mỗi ngày. Yêu cầu này không bắt buộc khi đo ngắm vào ngày trời râm mát liên tục hoặc nhiệt độ ngoài trời ít thay đổi. 5.4.10. Chiều dài tiêu chuẩn các tia ngắm là 50 m. Trong những trường hợp đặc biệt như đường có độ dốc lớn, đo vào mốc, khi sai số hệ thống rõ rệt thì chiều dài tia ngắm có thể rút ngắn đến 5 m. 5.4.11. Chiều cao tia ngắm so với mặt đất (vật chướng ngại) không được nhỏ hơn 0,8 m. Trường hợp đặc biệt khi chiều dài tia ngắm dưới 25 m thì chiều cao tia ngắm không được nhỏ hơn 0,5 m. Tuyệt đối không được đóng cọc, dựng mia trong hố hoặc dưới mương để tăng thêm chiều cao tia ngắm. Chiều cao tia ngắm không quy định khi mia đặt trên dấu mốc. 5.4.12. Chỉ được đo ngắm khi tầm nhìn hoàn toàn thông suốt, hình ảnh vạch chia trên mia ổn định và rõ nét. Thời gian bắt đầu đo quy định là sau khi mặt trời mọc một giờ và trước khi mặt trời lặn 30 phút. Không được đo ngắm trong các trường hợp sau: a) Trong khoảng một giờ 30 phút trước và sau giữa trưa (12 giờ), thời gian nghỉ trưa có thể ngắn hơn hoặc kéo dài tùy theo tình hình thời tiết, khí hậu từng vùng, từng mùa; b) Khi hình ảnh rung động khó kẹp chính xác hệ chỉ hình nêm (  ) vào vạch chia trên mia; c) Khi nhiệt độ thay đổi nhanh và đột ngột; d) Khi sức gió từ cấp 4 trở lên (xem bảng 6). 5.4.13. Để tránh sự tăng giảm đột ngột của nhiệt độ bên ngoài làm ảnh hưởng đến chất lượng đo ngắm cần phải thực hiện các biện pháp sau đây: a) Máy phải đưa ra khỏi hòm để ở nơi râm mát trước khi đo 30 phút; b) Máy phải được che ô trong khi đo ngắm; c) Khi chuyển trạm máy phải được che bằng túi vải trắng dày, rộng và máy phải được giữ thắng đứng. 5.4.14. Dùng thước dây để đo khoảng cách từ máy tới mia, sau đó xác định lại khoảng cách bằng máy đang đo. Số chênh khoảng cách từ máy tới hai mia trong từng trạm không được vượt quá 0,5 m. Tổng số chênh khoảng cách một đoạn không quá 1 m. 5.4.15. Giá máy đặt trên các trạm đo không được cọ xát với các vật xung quanh. Cấm ấn quá mạnh các chân máy xuống đất, hai chân song song với hướng đo, còn chân kia lần lượt đặt sang bên phải và bên trái hướng đo; ba chân máy đặt choãi nghiêng như nhau, mũi chân cắm xuống chỗ chất đất giống nhau. Trình tự đặt chân máy khi đo như sau: 5.4.16. Cọc mia của đường bên phải và đường bên trái đóng vào chỗ đất chắc cách nhau hơn nửa mét, đồng thời đóng trên chỗ cao thấp khác nhau, trước khi đóng cọc phải dẫy hết cỏ và lớp đất xốp ở đó. Trên đoạn đường đá cứng dùng cọc sắt dài từ 10-20 cm đường kính từ 2-3 cm trên chóp cọc có đinh mũ tròn. Khi đo ở đường đất mềm thì dùng cọc gỗ 10x10x40 cm đóng đinh mũ ở giữa. Lúc đo về cố gắng đóng thêm các cọc sâu xuống để chênh cao cùng một trạm máy đo đi khác với đo về. Khi đo theo đường nhựa thì dùng loại đinh dài từ 3-8 cm đường kính từ 0,5-0,7 cm, có chóp nửa hình cầu đường kính 1 cm. Đinh đóng xuống đường sao cho mặt dưới hình chóp cầu vừa tiếp xúc với mặt đường nhựa. Những nơi đường quá cứng thì dùng đế mia nặng 6 kg. 5.4.17. Để đo cao hạng I dùng 4 - 5 cặp cọc, đóng trước 1 - 2 cặp và phải giữ lại 1 cặp cọc đã đóng ở trạm đo trước. 5.4.18. Khi nghỉ cần kết thúc đo ngắm trên mốc độ cao cố định, nếu không được thì trước khi nghỉ phải chôn sâu cọc gỗ trên có đinh mũ tròn hoặc sáu cọc sắt của trạm đo sau cùng (trước giữa và sau) vào giữa các lòng hố sâu khoảng 0,3 m và đo trên sáu cọc đó (hai trạm máy) thực hiện như cách đo các trạm đo khác. Đo xong đậy cỏ lên cọc và lấp đất lại cho an toàn. Khi tiếp tục đo phải đo lại bốn cọc mia ở trạm cuối cùng, nếu kết quả đo được so với kết quả cũ không sai lệch quá 0,7 mm thì tiếp tục đo từ trạm đó. Trường hợp quá 0,7 mm thì phải đo kiểm tra trạm trước và cũng so sánh với sai số trên nếu đạt thì đo từ hai cọc giữa đi, nhưng nếu vẫn vượt thì so sánh tổng chênh cao của hai trạm đo trước với hai trạm đo sau khi nghỉ, nếu không vượt quá 0,7 mm thì tiếp tục đo từ hai cọc trước (hoặc hai cọc sau) nhưng nếu vượt thì phải đo lại từ trạm đo của lần nghỉ trước hoặc từ mốc đầu của đoạn này. Các cọc nghỉ này chỉ có giá trị trong 15 ngày. Trong sổ đo phải vẽ sơ đồ vị trí cọc mia, ghi số hiệu mia đặt trên các cọc đó (trước, sau khi nghỉ) và ghi các điều kiện đo ngắm. 5.4.19. Trên mỗi trạm đo phải tính toán và kiểm tra các mục sau: a) Kiểm tra như điểm 5.4.10 và 5.4.11; b) Hiệu số của số đọc chỉ giữa thang chính với số đọc trung bình của chỉ trên và chỉ dưới cùng mia phải nhỏ hơn 5 mm; c) Chênh lệch giữa số đọc thang chính đã cộng hằng số K với số đọc thang phụ không được vượt quá 0,5 mm; d) Hiệu các chênh cao tính được theo thang chính và thang phụ của từng đường không được vượt quá 0,5 mm; e) Hiệu các chênh cao tính được theo thang chính và thang phụ giữa hai cọc mia của trạm đo trước và trạm đo sau không được vượt quá 0,7 mm; nếu vượt quá giới hạn trên thì phải thay đổi chiều cao máy đo lại trạm đo đó; nhưng nếu vẫn vượt giới hạn này thì phải đo lại trạm trước. 5.4.20. Hiệu chênh cao của đường bên phải và bên trái của cùng một chiều mỗi đoạn không được vượt quá ±2 mm trong trường hợp số trạm máy trung bình trên 1 km không lớn hơn 15 (trường hợp 1) và ±3 mm trong trường hợp số trạm máy trung bình trên 1 km lớn hơn 15 đối với khu vực địa hình khó khăn, có độ dốc lớn (trường hợp 2). Trường hợp vượt giới hạn sai số này thì phải đo lại chiều nghi ngờ đã đo không chính xác. Đưa vào tính toán tất cả các giá trị chênh cao nếu các giá trị trước khi đo lại không lệch nhau quá ±4 mm đối với trường hợp 1 hoặc ±5 mm đối với trường hợp 2. Các kết quả đo chỉ được đưa vào tính toán khi đạt giới hạn sai số cho phép. 5.4.21. Giá trị chênh cao trung bình đường bên phải và đường bên trái của chiều đo đi so với chiều đo về trong từng đoạn không được vượt quá ±2 mm (trường hợp 1) hoặc ±3 mm (trường hợp 2). Khi vượt quá giới hạn trên thì phải đo lại chiều nào có kết quả không phù hợp lớn giữa đường trái và đường phải. Chênh cao nào không phù hợp thì bỏ đi. Hai giá trị chênh cao còn lại được đưa vào tính toán nếu chúng nằm trong giới hạn sai số cho phép và chúng phải là chênh cao của hai chiều đo đi và đo về. Đưa cả ba giá trị vào tính toán, nếu hai giá trị chênh cao trước khi đo lại không chênh lệch nhau quá ±4 mm (trường hợp 1) hoặc ±5 mm (trường hợp 2) và giá trị chênh cao sau khi đo lại không lệch so với từng giá trị trước khi đo lại quá ±4 mm. Nếu kết quả đo lúc đầu và đo lại không thỏa mãn yêu cầu trên thì đo lại chiều kia nữa. Sau đó xét kết quả đưa vào tính toán theo giới hạn sai số đã nêu ở trên. 5.4.22. Nếu hiệu các chênh cao đo đi và đo về của các đoạn đo liên tiếp đều quá ±0,3 mm (trường hợp 1) hoặc ±0,4 mm (trường hợp 2) và cùng dấu thì các đoạn đo sau nên rút ngắn chiều dài tia ngắm cho thích hợp và phải tuyệt đối tuân theo các quy định nêu trong các điểm 5.4.10 - 5.4.15 để tránh sai số hệ thống. Nếu nghi ngờ về máy thì phải kiểm tra và hiệu chỉnh máy. 5.4.23. Phải đưa vào giá trị chênh cao từng đoạn các số cải chính đã nêu ở điểm 1.13 và phụ lục 3. 5.4.24. Khi kết thúc đo giữa các đường, giữa các mốc cơ bản hoặc toàn tuyến phải lập bảng tính chênh cao khái lược và đánh giá chất lượng đo bằng sai số trung phương ngẫu nhiên và hệ thống theo quy định tại phụ lục 2. ...

    Chương 2. Điều 6

    6. Yêu cầu kỹ thuật đo chênh lệch độ cao hạng II 6.1. Máy và mia 6.1.1. Để đo chênh cao hạng II dùng các loại máy thủy chuẩn quang cơ với mia inva, máy thủy chuẩn điện tử với mia mã vạch, máy thủy chuẩn cân bằng tự động và phải thỏa mãn điều kiện sai số trung phương ngẫu nhiên của chênh cao trung bình đo đi đo về trên 1 km không được vượt quá 0,50 mm; khi dùng các loại máy thủy chuẩn quang cơ (có ống nước dài) và những máy có độ chính xác tương đương, đặc tính kỹ thuật của máy phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Hệ số phóng đại của ống ngắm từ 35 ÷ 40 lần trở lên (máy thủy chuẩn điện tử từ 30 lần trở lên). - Giá trị vạch khắc trên mặt ống bọt nước dài không quá 12’’/2 mm. Hình ảnh khí bọt nước nằm ngang phải nhìn thấy được trong ống ngắm. - Giá trị vạch khắc vành đọc số của bộ đo cực nhỏ là 0,05 và 0,10 mm. 6.1.2. Khi sử dụng loại máy thuỷ chuẩn cân bằng tự động hoặc thiết bị công nghệ mới khác loại quy định tại điểm 6.1.1 thì phải được Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam xác nhận và cho phép mới được áp dụng vào thực tế. 6.1.3. Mia dùng để đo chênh cao hạng II là mia có dải inva dài 3 m. Trên dải inva có khắc vạch theo thang chính và thang phụ lệch nhau một hằng số K. Sai số các khoảng chia một mét và toàn chiều dài không được vượt quá 0,20 mm, đối với mia dùng đo ở miền núi phải nhỏ hơn 0,10 mm. 6.1.4. Khi đo chênh cao hạng II phải đo nhiệt độ không khí với nhiệt kế có giá trị vạch chia nhỏ hơn 0,5°C. 6.2. Kiểm tra và kiểm nghiệm máy, mia thủy chuẩn 6.2.1. Phương pháp, thời hạn kiểm tra, kiểm nghiệm máy, mia theo các điểm từ 5.3.1 ÷ 5.3.2. 6.2.2. Đối với máy thuỷ chuẩn quang cơ tự cân bằng thêm các mục sau: a) Kiểm tra ống nước tròn trên máy khi quay máy đi 180° thì bọt nước không được lệch quá 0,3 mm; b) Xác định và hiệu chỉnh sai số do tia ngắm không nằm ngang (theo quy định tai phụ lục 9). c) Xác định sai số tự cân bằng (theo quy định tai phụ lục 9). 6.2.3. Đối với bộ mia mã vạch (fiber glass) mia phải được kiểm tra khoảng cách từng dm, từ dm thứ 5 đến dm thứ 25 trên bãi kiểm tra chuẩn sau mỗi mùa đo, chênh cao từng dm đo được so với chênh cao chuẩn không lớn hơn ± 0.3 mm. 6.3. Đo chênh cao hạng II 6.3.1. Đo chênh cao hạng II phải tiến hành đo đi và đo về theo một hàng cọc dựng mia hoặc mia được dựng trên đế mia bằng sắt nặng 6 kg. Đọc số trên máy theo phương pháp chập đọc. 6.3.2. Thứ tự ngắm trên các trạm theo chiều đo đi như sau: Trạm lẻ Trạm chẵn 1. Số đọc thang chính mia sau 2. Số đọc thang chính mia trước 3. Số đọc thang phụ mia trước 4. Số đọc thang phụ mia sau 1. Số đọc thang chính mia trước 2. Số đọc thang chính mia sau 3. Số đọc thang phụ mia sau 4. Số đọc thang phụ mia trước Khi đo về thứ tự đọc số của trạm chẵn thực hiện như trạm lẻ đo đi và trạm lẻ đo về thực hiện như trạm chẵn đo đi. 6.3.3. Thao tác trên mỗi trạm đo như sau: - Nếu dùng máy có vít nghiêng thì tiến hành như điểm 5.4.2 và 5.4.3 trong phần đường bên phải. - Nếu dùng máy thuỷ chuẩn tự cân bằng thao tác một trạm máy theo các bước; a) Đặt máy cẩn thận, đưa bọt nước tròn vào giữa; b) Hướng ống ngắm về thang chính của mia thứ nhất. Đặt số đọc ở bộ đo cực nhỏ là 50. Đọc số đọc khoảng cách theo chỉ trên và chỉ dưới, tiếp đó dùng bộ đo cực nhỏ kẹp vạch đọc số; c) Quay máy ngắm về thang chính mia thứ hai, thao tác như mục b; d) Ngắm lên thang phụ của mia thứ hai kẹp vạch đọc số; e) Quay máy ngắm về thang phụ mia thứ nhất kẹp vạch đọc số. Các kết quả đọc được phải ghi vào sổ, tính toán kịp thời theo quy định tai phụ lục 25. 6.3.4. Đường hạng II được chia thành nhiều chặng, mỗi chặng dài 25 - 30 km và phải đo theo khoá số 8. Trong điều kiện đặc biệt chiều dài chặng có thể tăng lên hoặc giảm đi. Chiều đo đi và đo về của cùng một chặng phải cùng một người đo, một máy, một cặp mia, một loại cọc mia và phải đo theo một đường, số trạm máy của chiều đo đi và đo về phải là số chẵn, có thể hơn kém nhau hai hoặc bốn trạm (nếu đường đo qua đèo hoặc đường đá). Đánh số trạm từ 1 đến hết đoạn cho mỗi chiều đo. 6.3.5. Khi chuyển từ đo đi sang đo về mia phải thay đổi vị trí cho nhau. Chiều đo đi và đo về trong cùng một đoạn phải tiến hành vào hai buổi khác nhau của một ngày. Yêu cầu này không bắt buộc khi đo ngắm vào ngày thời thiết râm mát liên tục hoặc nhiệt độ ngoài trời ít thay đổi. Cứ cách từ 2 - 4 trạm máy đo nhiệt độ không khí một lần. 6.3.6. Chiều dài tia ngắm tiêu chuẩn là 50 m. Trong các trường hợp sau đây thì chiều dài tia ngắm có thể rút xuống, nhưng không thể nhỏ hơn 5 m: a). Đường đèo; b). Khi sai số hệ thống rõ rệt; c). Khi đo nối vào các mốc độ cao. Nếu hệ số phóng đại của ống ngắm từ 44 lần trở lên thì chiều dài tia ngắm có thể kéo dài tới 65 m. 6.3.7. Chiều cao tia ngắm so với mặt đất hoặc vật chướng ngại không nhỏ hơn 0,5 m. Trường hợp chiều dài tia ngắm dưới 30 m thì chiều cao tia ngắm không được nhỏ hơn 0,3 m (không áp dụng khi đặt mia vào mốc). Tuyệt đối không được đặt vào cọc, đế mia sắt trong hố hoặc dưới mương để tăng chiều cao tia ngắm. 6.3.8. Chỉ được đo ngắm khi tầm nhìn thông suốt và hình ảnh vạch chia trên mia ổn định, rõ nét. 6.3.9. Dùng thước dây để đo khoảng cách từ máy tới hai mia, sau đó dùng máy đang đo để xác định lại, số chênh lệch khoảng cách từ máy tới hai mia trong một trạm không quá một mét. Tích luỹ số chênh lệch trong một đoạn không quá 2 m. 6.3.10. Phải đặt chân máy như điểm 5.4.15. 6.3.11. Mia dựng trên cọc sắt hoặc đế mia. Cọc sắt phải đóng vào chỗ đất chắc. Trước khi đóng cọc phải dẫy hết cỏ và đất xốp ở đó, nếu đo trên đường đá hoặc đường nhựa thì thực hiện theo điểm 5.4.16. Để thuận tiện cho đo ngắm nên dùng bốn cọc sắt trở lên. 6.3.12. Trên mỗi trạm đo phải kiểm tra ngay các mục sau: a) Kiểm tra theo điểm 6.3.6; 6.3.7; 6.3.9; b) Hiệu của số đọc chỉ giữa thang chính với số đọc trung bình của chỉ trên và chỉ dưới cùng mia phải nhỏ hơn 5 mm; c) Chênh lệch giữa số đọc thang chính đã cộng bảng số K với số đọc thang phụ không được vượt quá 0,5 mm; d) Hiệu các chênh cao tính được theo thang chính và thang phụ không được vượt quá 0,7 mm; Sau khi kiểm tra xong các mục trên mới được chuyển trạm. Khi chuyển máy, mia phải được nhấc ra khỏi cọc và không được để đáy mia xuống đất. Mia sau được chuyển lên làm mia trước của trạm mới. 6.3.13. Khi nghỉ cần kết thúc trên mốc thường, nếu không được thì trước lúc nghỉ phải đóng 3 cọc gỗ kích thước đường kính từ 8 đến 10 cm, dài 40 cm trên có đinh mũ tròn hoặc ba cọc sắt vào giữa các hố sâu 0,3 m làm thành hai trạm máy. Phương pháp đo ngắm trên hai trạm này thực hiện như phương pháp đo trên các trạm đo khác, đo xong đậy cỏ lên cọc và phủ đất. Nên đóng các cọc mia ở nơi ổn định, ít bị tác động của bên ngoài làm ảnh hưởng đến độ cao và để dễ bảo vệ chúng; Khi tiếp tục đo, trước hết phải kiểm tra hai cọc ở trạm cuối theo phương pháp thông thường. Nếu số chênh giữa kết quả đo lại so với kết quả đo trước lúc nghỉ không vượt quá 1 mm (20 vạch) thì tiếp tục đo từ trạm đó. Nếu vượt giới hạn này thì tiến hành xử lý như điểm 5.4.18. Cách vẽ sơ đồ và cách ghi ở trạm kiểm tra thực hiện như quy định tại điểm 5.4.18. 6.3.14. Kiểm tra kết quả đo ngắm các đoạn trong chặng thực hiện như sau: a) Chênh lệch giữa hai giá trị chênh cao đo đi và đo về không được vượt quá ±4 mm trong trường hợp số trạm máy trung bình trên 1 km không lớn hơn 15 (trường hợp 1) và ±5 mm trong trường hợp số trạm máy trung bình trên 1 km lớn hơn 15 đối với khu vực địa hình khó khăn, có độ dốc lớn (trường hợp 2). Trường hợp chênh lệch giữa hai giá trị đo đi và đo về lớn hơn sai số cho phép phải tiến hành đo lại theo chiều nghi ngờ nhất. So sánh 3 kết quả đo để loại bỏ chênh cao sai, hai giá trị chênh cao còn lại nếu đạt giới hạn sai số cho phép và chúng phải là chênh cao của hai chiều đo đi và đo về thì mới được dùng để tính toán. Sử dụng cả ba giá trị chênh cao để tính toán trong trường hợp hai giá trị đo lúc đầu không lệch nhau quá ±8 mm đối với trường hợp 1 và ±10 mm đối với trường hợp 2 và giá trị đo lại không lệch nhau quá so với từng giá trị lúc đầu là ±6 mm (L là chiều dài đoạn tính bằng km). Trường hợp kết quả đo lại một chiều vẫn không đạt giới hạn sai số thì đo lại chiều kia và kết quả đo chỉ được đưa vào tính toán khi đạt giới hạn sai số cho phép. b) Chênh lệch giữa hai giá trị chênh cao đo đi và đo về trong từng chặng không được vượt quá ±4 mm đối với trường hợp 1 và ±5 mm đối với trường hợp 2; Trường hợp vượt hạn sai phải đo lại các đoạn nghi ngờ nhất và chỉ được đưa vào tính toán khi chênh lệch giữa hai giá trị chênh cao đo đi và đo về của chặng không vượt giới hạn sai số cho phép. Trường hợp giá trị chênh lệch xấp xỉ với giới hạn sai số cho phép thì ở các chặng đo sau phải rút ngắn bớt chiều dài tia ngắm và phải tuân theo các điểm 6.3.4; 6.3.7; 6.3.8; 6.3.9; 6.3.10 để giảm bớt sai số thống. 6.3.15. Sai số khép của đường hạng II không được vượt quá ±4 mm (trường hợp 1) và ±5 mm (trường hợp 2). Sai số khép cho phép đối với các vòng gồm hai cấp hạng như sau: Nếu vượt quá giới hạn số cho phép thì phải đo lại những đoạn có sai số đo đi, đo về lớn và có nghi ngờ trong khi đo. Cách tính số cải chính và lập bảng chênh cao khái lược thực hiện theo quy định tại phụ lục 32. ...

    Chương 2. Điều 7

    7. Yêu cầu kỹ thuật đo chênh cao hạng III 7.1. Máy, mia, kiểm tra và kiểm nghiệm 7.1.1. Máy thủy chuẩn dùng để đo chênh cao hạng III là máy chuẩn tự cân bằng, máy thủy chuẩn điện tử hoặc máy quang cơ đảm bảo các yêu cầu sau: - Hệ số phóng đại của ống ngắm từ 24 lần trở lên. - Giá trị khoảng chia trên mặt ống bọt nước dài không được vượt quá 15”/2 mm và nếu là bọt nước tiếp xúc thì phải nhỏ hơn 30”/2 mm - Lưới chỉ chữ thập có ba chỉ ngang. 7.1.2. Mia dùng để đo chênh cao hạng III là mia gỗ hai mặt dài 3 m, trên mỗi mặt chia thành từng ô 1 cm. Mặt đen và mặt đỏ của mia có khắc vạch chênh nhau một hằng số K trên 40 cm. Mặt đỏ của hai mia trong cặp chênh nhau 100 mm. Sai số ngẫu nhiên vạch dm và m của cặp mia không được vượt quá 0,5 mm. Trong điều kiện đo ở vùng núi hoặc đo công trình đặc biệt có thể dùng mia inva để đo hạng III. Mia phải được dựng thẳng đứng trên cọc sắt hoặc đế sắt. 7.1.3. Máy dùng đo thủy chuẩn hạng III được kiểm tra và kiểm nghiệm theo quy định tại các phụ lục từ 8 đến 15 (trừ phụ lục 12). 7.1.4. Đối với máy thủy chuẩn có ống bọt nước dài, trước đợt sản xuất phải kiểm tra kiểm nghiệm theo quy định tại các phụ lục 7, 9, 11, 12. Đối với máy tự cân bằng phải kiểm nghiệm theo các mục a, b, c của điểm 6.2.2. 7.1.5. Trong thời gian đo ngắm ở ngoại nghiệp phải kiểm tra và kiểm nghiệm các mục sau: - Kiểm tra vị trí ống nước tròn (hàng ngày trước khi đo). - Trị giá góc i mỗi ngày kiểm tra một lần, nếu qua tuần lễ đầu thấy góc i ổn định thì cứ từ 10 đến 15 ngày kiểm tra một lần. Bắt đầu và kết thúc mỗi đường phải đo kiểm tra góc i, sau mỗi đợt vận chuyển dài hoặc có gì nghi ngờ như nhiệt độ thay đổi đột ngột hay bị chấn động mạnh thì phải kiểm tra lại. 7.1.6. Trước và sau đợt sản xuất dùng thước Giơ-ne-vơ để kiểm nghiệm mia toàn diện theo quy định tại các phụ lục từ 18 đến 21. Đối với bộ mia mã vạch (fiber glass) phải kiểm tra khoảng cách từng dm, từ dm thứ 5 đến dm thứ 25 trên bãi kiểm tra chuẩn, chênh cao từng dm đo được so với chênh cao chuẩn không lớn hơn ± 0.3mm. 7.2. Đo chênh cao hạng III 7.2.1. Đường đo cao hạng III phải đo đi và về. Đo đi và đo về phải cùng một người đo, cùng máy, cùng một cặp mia, cùng một loại cọc hoặc đế mia. 7.2.2. Đo chênh cao hạng III dùng phương pháp chỉ giữa của máy, đối với máy có bộ đo cực nhỏ và mia inva thì dùng phương pháp chập đọc. 7.2.3. Thứ tự thao tác trên một trạm đo như sau: - Đọc số mặt đen (thang chính) mia sau; - Đọc số mặt đen (thang chính) mia trước; - Đọc số mặt đỏ (thang phụ) mia trước; - Đọc số mặt đỏ (thang phụ) mia sau. 7.2.4. Thứ tự đo theo phương pháp chỉ giữa của máy như sau: a) Đặt máy, cân bằng máy cẩn thận; b) Hướng ống ngắm vào mặt đen mia sau; dùng vít nghiêng đưa bọt nước vào giữa; đọc số trên mia theo ba chỉ dưới, trên, giữa; c) Hướng ống ngắm về mặt đen mia trước thao tác như b; d) Quay mặt đỏ mia trước hướng về máy, vặn vít nghiêng cho bọt nước vào giữa đọc số theo chi giữa; e) Quay mặt đỏ mia sau về máy thao tác như d. Các số đọc phải ghi ngay vào sổ và tính toán kịp thời (theo quy định tai phụ lục 26). 7.2.5. Chỉ được thay đổi chiều đo đi sang đo về tại các mốc thường. Khi di chuyển từ đo đi sang đo về phải đặt lại máy và thay đổi vị trí của hai mia. 7.2.6. Chiều dài tia ngắm từ máy tới mia từ 50 đến 60 m. Trường hợp hệ số phóng đại của ống ngắm từ 30 đến 35 lần thì chiều dài tia ngắm là 75 m. Nếu hệ số phóng đại lớn hơn 35 lần thì chiều dài tia ngắm không lớn hơn 100 m. Khoảng cách từ máy đến mia đo bằng thước hoặc bước chân. Sau đó xác định lại bằng máy. Chênh lệch khoảng cách từ máy đến hai mia trong một trạm không được vượt quá 2 m và tổng số tích lũy trong một đoạn đo không vượt quá 5 m. Trong một trạm máy không được thay đổi tiêu cự máy. 7.2.7. Chiều cao tia ngắm cách mặt đất (vật chướng ngại) không được dưới 0,3 m. Ở vùng núi khi chiều dài tia ngắm dưới 30 m thì không được dưới 0,2 m. Trường hợp mia đặt vào mốc không tính chiều cao tia ngắm. Không được dựng mia xuống hố hoặc rãnh để tăng số đọc trên mia. 7.2.8. Trước khi đặt đế mia phải dẫy hết lớp cỏ và đất xốp ở đó. Những vùng đất vững chắc thì dùng đinh sắt hoặc đệm sắt để dựng mia. Những nơi đất xốp hoặc mềm phải dùng cọc gỗ đóng chắc xuống đất để đặt chân máy và dựng mia. Kích thước cọc gỗ là 10x10x40 (cm), trên đỉnh cọc phải đóng đinh mũ tròn. Cách đặt chân máy theo quy định tại điểm 5.4.15. 7.2.9. Trường hợp không kết thúc được đoạn đo vào mốc độ cao hoặc điểm cần đo nối bằng số trạm chẵn mà là số trạm lẻ thì phải cộng số cải chính chênh lệch điểm “0” của cặp mia vào giá trị chênh cao đoạn đo. 7.2.10. Chỉ đo chênh cao hạng III khi hình ảnh vạch chia trên mia rõ ràng và ổn định. Khi đo phải dùng ô che máy, khi chuyển trạm phải giữ máy ở vị trí đứng và che máy bằng túi vải trắng. Thời gian đo quy định sau khi mặt trời mọc 30 phút và trước khi mặt trời lặn 30 phút. Trường hợp trưa trời nắng hình ảnh rung động phải nghỉ đo. Những ngày râm mát có thể đo liên tục suốt ngày. Không được đo khi có gió cấp 5 và sau trận mưa rào đột ngột. 7.2.11. Trên các trạm đo phải kiểm tra các mục sau: - Kiểm tra theo điểm 7.2.6; 7.2.7; - Số đọc chỉ giữa so với giá trị trung bình số đọc chỉ trên và chỉ dưới mặt đen của từng mia không được lệch quá 5 mm; - Chênh lệch giữa số đọc mặt đen (thang chính) đã cộng hằng số K với số đọc mặt đỏ (thang phụ) không được vượt quá 2 mm; - Giá trị chênh cao theo mặt đen (thang chính) và mặt đỏ (thang phụ) của hai mia không được lệch nhau quá 3 mm (1,5 mm = 30 vạch), nếu vượt quá giới hạn trên phải thay đổi chiều cao máy ít nhất 2 cm rồi đo lại trạm đo ấy. Khi đã kiểm tra xong các mục trên mới được chuyển máy. Khi chuyển máy: mia trước không chuyển nhưng phải nhắc ra khỏi cọc hoặc đế mia và không được đặt đáy mia xuống đất. Mia sau chuyển thành mia trước của trạm mới. 7.2.12. Khi nghỉ trưa hoặc chiều nên kết thúc vào mốc thường, mốc tạm thời hay trạm nghỉ. Tại trạm nghỉ tiến hành như hướng dẫn tại điểm 6.3.13 chỉ khác là kết quả đo lại so với kết quả đo trước không được vượt quá ± 3 mm và dùng cọc gỗ đường kính từ 8 đến10 cm, dài 40 cm, trên có đinh mũ tròn hoặc dùng hai mỏm đá vững chắc hay vật kiến trúc kiên cố để làm trạm nghỉ, lấy sơn đánh dấu vị trí đặt mia. 7.2.13. Trên mỗi đoạn đo có thể tăng thêm trạm nghỉ, khi đo tiếp các trạm nghỉ này cũng phải kiểm tra lại như quy định tại điểm 7.2.12. Sau khi so sánh chênh cao đo đi và đo về của từng đoạn nếu sai lệch vượt giới hạn cho phép ở điểm 7.2.14 và người đo ngắm nghi ngờ đoạn nào thì đo lại những đoạn nghi ngờ tới các trạm nghỉ. Khi đo phải kiểm tra như sau khi nghỉ. Mốc tạm thời, cọc nghỉ không được dùng làm điểm bắt đầu của đường nhánh đồng thời không được đo rẽ nhánh khi đang đo dở dang một đoạn đo trên đường đo. 7.2.14. Hiệu của giá trị chênh cao giữa chiều đo đi và đo về trong từng đoạn ở đồng bằng (dưới 15 trạm/1 km) phải không được lớn hơn ±10 mm , ở vùng núi và vùng đi lại khó khăn (trên 15 trạm/1 km) phải không được lớn hơn ±12 mm . Nếu vượt giới hạn sai số cho phép trên thì phải tiến hành đo lại theo điểm 7.2.13, nhưng nếu vẫn vượt giới hạn trên thì cần đo lại đoạn đo nào thấy nghi ngờ. Dùng hai giá trị chênh cao khi chúng nằm trong giới hạn sai số cho phép trên. Dùng ba giá trị chênh cao khi hai giá trị ban đầu không lớn hơn ±15 mm và giá trị đo lại so với hai giá trị ban đầu không chênh lệch quá ±10 mm (trường hợp 1) và ±12 mm (trường hợp 2). Trong trường hợp này giá trị chênh cao được tính như sau: - Lấy giá trị trung bình chênh cao đo đi (nếu đo lại lần đi) hoặc đo về (nếu đo lại lần về); - Lấy giá trị trung bình chênh cao đo đi và đo về. Nếu đo lại một chiều chưa đạt giới hạn sai số thì phải đo lại chiều kia. Kết quả cuối cùng phải là kết quả đo đi và đo về thỏa mãn giới hạn cho phép nêu trên. 7.2.15. Sai số khép đường hoặc khép vòng phải không được lớn hơn ±10 mm (trường hợp 1) và ±12 mm (trường hợp 2); Sai số khép cho phép đối với các vòng gồm hai cấp hạng như sau: Nếu không đạt giới hạn sai số nói trên phải đo lại những đoạn xét thấy nghi ngờ. 7.2.16. Kết quả đo được lập thành bảng tính chênh cao khái lược ngoại nghiệp (theo quy định tại phụ lục 33). ...

    Chương 2. Điều 8

    8. Yêu cầu kỹ thuật đo chênh cao hạng IV 8.1. Máy, mia, kiểm tra và kiểm nghiệm. 8.1.1. Máy thủy chuẩn dùng đo chênh cao hạng IV như máy dùng đo chênh cao hạng III, nhưng giá trị khoảng chia trên ống bọt nước dài có thể tới 25”/2 mm. 8.1.2. Mia dùng đo chênh cao hạng IV giống như mia dùng để đo chênh cao hạng III. Trường hợp đặc biệt có thể dùng mia dài 4 m một mặt số nhưng không được dùng mia tháp, mia gập, mia rút. Sai số ngẫu nhiên khoảng chia dm phải không được vượt quá 1 mm. Phải dùng đế mia bằng sắt hoặc cọc gỗ có đinh mũ để dựng mia. Mia phải được kiểm định bằng thước Giơ-ne-vơ. 8.1.3. Kiểm tra và kiểm nghiệm máy, mia tuân theo quy định nêu ở mục 7.1 khoản 7 phần II quy chuẩn này. 8.2. Đo chênh cao hạng IV 8.2.1. Đường độ cao hạng IV gối đầu lên hai điểm hạng cao hơn hoặc tạo thành vòng khép kín, chỉ đo theo một chiều. Đối với các đường nhánh phải đo đi và đo về, hoặc đo một chiều theo hai hàng mia hoặc một hàng mia nhưng phải thay đổi độ cao máy ít nhất là 2 cm. 8.2.2. Chiều dài tiêu chuẩn của tia ngắm là 100 m, nếu hệ số phóng đại của máy lớn hơn 30 lần thì có thể dài đến 150 m. Chiều dài tia ngắm xác định bằng bước chân sau đó xác định lại bằng máy. Số chênh lệch chiều dài tia ngắm từ máy đến hai mia trên mỗi trạm không được lớn hơn 5 m. Số chênh lệch tích lũy không được lớn hơn 10 m. 8.2.3. Chiều cao tia ngắm phải cách mặt đất (hoặc vật chướng ngại) hơn 0,2m. Ở vùng núi, khi chiều dài tia ngắm không lớn hơn 30 m thì chiều cao tia ngắm không thấp hơn 0,1 m. Không được đặt đế mia xuống hố, rãnh, mương v.v… để tăng chiều cao tia ngắm. 8.2.4. Đo chênh cao hạng IV theo phương pháp đo chỉ giữa. Thao tác trên một trạm máy khi đo đi, đo về hoặc đo một chiều thực hiện như đo hạng III. Nếu đo theo phương pháp một hàng mia nhưng thay đổi chiều cao máy thì thao tác hai lần như quy định tại điểm 7.2.4. Sau khi thao tác đo xong một trạm thay đổi chiều cao máy ít nhất 2 cm rồi làm như quy định tại điểm 7.2.4 một lần nữa. Trường hợp đo theo phương pháp hai hàng mia thì thao tác như sau: Đo hàng bên phải như quy định tại điểm 7.2.4, sau đó chuyển mia sang hàng bên trái, người đứng máy lại thực hiện như quy định tại điểm 7.2.4. Việc ghi kết quả đo ngắm và tính toán được tiến hành theo hướng dẫn tại phụ lục 24. 8.2.5. Thứ tự các trạm máy, điều kiện đo chênh cao hạng IV cũng thực hiện như ở hạng III. 8.2.6. Trên mỗi đoạn có thể đặt thêm các trạm nghỉ như điểm 7.2.12. 8.2.7. Khi nghỉ trưa hoặc kết thúc một ngày đo, phải làm theo quy định ở điểm 7.2.12. Hiệu số các giá trị chênh cao đo trước và sau khi nghỉ phải không được lớn quá 5 mm. 8.2.8. Trên mỗi trạm máy phải kiểm tra ngay các mục sau đây: a) Kiểm tra theo điểm 8.2.2; 8.2.3. b) Số đọc chỉ giữa mặt đen cộng với hằng số K trừ số đọc mặt đỏ của từng mia phải không được vượt quá 3 mm. c) Chênh lệch giữa số đọc chỉ giữa và giá trị trung bình của hai số đọc theo chỉ trên và chỉ dưới mặt đen phải không được vượt quá 5 mm. d) Hiệu số giữa các giá trị chênh cao tính theo mặt đen và mặt đỏ (hoặc hai lần đặt máy) không được vượt quá 5 mm. Nếu lớn hơn phải thay đổi chiều cao máy từ 2 cm trở lên và đo lại trạm đó. 8.2.9. Đối với các đường hạng IV có hai đầu đo nối với các mốc hạng cao hơn, các đường tạo thành vòng khép kín hoặc đường treo đo hai lần độc lập thì sai số khép đường không được vượt quá ±20 mm đối với khu vực đồng bằng (trường hợp 1) và ±25 mm ở vùng núi (trường hợp 2). Trường hợp sai số khép đường lớn hơn giới hạn sai số nêu trên thì phải đo lại đoạn nào xét thấy nghi ngờ. Kết quả đo được lập thành bảng tính chênh cao khái lược ngoại nghiệp như quy định tại phụ lục 31. Sai số khép cho phép đối với các vòng gồm hai cấp hạng như sau: ...

    Chương 2. Điều 9

    9. Đo chênh cao qua vật chướng ngại 9.1. Đo chênh cao hạng I và II qua sông. 9.1.1. Khi đo chênh cao qua vật chướng ngại như sông, hồ, vực sâu, trước hết nên lợi dụng các công trình giao thông, thủy lợi như cầu cống bảo đảm độ vững chắc, tiến hành đo theo quy định sau đây: - Nếu cấm được xe cơ giới thì đo bình thường; - Nếu không cấm được xe cơ giới thì mỗi chiều đo đi và đo về phải đo hai lần (đo qua cầu xong đo lại ngay), lấy kết quả trung bình. Lưu ý cả hai trường hợp trên đều phải gắn mốc tạm thời ở hai đầu cầu trước lúc đo; Trường hợp không thể đo như trên được thì phải chọn bãi để đo qua vật chướng ngại. 9.1.2. Máy mia sử dụng để đo thủy chuẩn qua sông phải được kiểm nghiệm toàn diện theo 5.2.1 và 5.3.1. Hàng ngày trước và sau khi đo qua sông phải kiểm tra góc i. Giá trị góc i của máy phải nhỏ hơn 3”. 9.1.3. Việc đo chênh cao qua sông cần tiến hành trong điều kiện và thời gian thích hợp. Điều kiện tốt để đo là những ngày trời râm mát, sự thay đổi nhiệt độ không lớn và gió nhẹ. Trong những ngày như vậy có thể làm bất kỳ thời gian nào. Trong những ngày trời nắng chỉ được đo sau khi mặt trời mọc 1 - 2 giờ và kết thúc trước khi mặt trời lặn 1 - 2 giờ, trưa nghỉ đo từ 1 đến 2 giờ. 9.1.4. Chiều rộng của sông được xác định bằng bọt nước dài hoặc bằng vít nghiêng của máy và bảng ngắm theo công thức: ; Trong đó: S : Chiều rộng của sông (m); x : Hiệu giữa hai số đọc trên mia hoặc giữa hai tâm vạch bảng ngắm lấy chính xác đến 0,1 mm; n : Số vạch khắc mà bọt nước hoặc vít nghiêng (ốc điều chỉnh bọt nước dài) di động; µ” : Trị số khoảng chia của ống bọt nước dài hoặc vít nghiêng; ρ” = 206265; Chiều rộng sông cũng có thể đo theo phương pháp thị cự nếu sông rộng dưới 400 m; Cự ly từ máy đến mia xa xác định 4 lần nếu sông rộng dưới 1000 m và 6 lần nếu sông rộng trên 1000 m. 9.1.5. Bảng ngắm đo qua sông (xem hình vẽ tại phụ lục 27) phải có giá lắp để có thể cố định và di động trên mia, có núm điều chỉnh nhỏ để di động vạch ngắm (điểm ngắm) lên xuống. Bảng ngắm có dấu đọc số và vạch ngắm hoặc điểm ngắm. Chiều rộng vạch ngắm và điểm ngắm tính bằng mm theo công thức sau: - Chiều rộng vạch ngắm T = 0,05.S - Đường kính điểm ngắm Ф = 0,09.S Trong đó: S là chiều rộng sông tính bằng m. Chiều dài vạch ngắm lớn hơn chiều rộng từ 3 – 6 lần. Khoảng cách từ dấu đọc số đến tâm các vạch ngắm hoặc tâm các điểm ngắm phải được xác định các giá trị C bằng thước Giơ-ne-vơ trước và sau khi đo với độ chính xác 0,1 mm. 9.1.6. Trường hợp sông rộng dưới 150 m thì đo theo một trong hai phương pháp sau: a) Trường hợp bố trí được máy và mia sao cho hai tia ngắm có cùng một điều kiện như nhau (xem hình 15 và 16). M là trạm máy; P1, P2 là điểm đặt mia, phải bố trí các khoảng cách MP1 và MP2 bằng nhau. Trong trường hợp này tiến hành đo như các trạm máy thông thường, nhưng khác là phải kẹp vạch (điểm) và đọc số ba lần, sau đó tính giá trị trung bình. Chênh lệch cho phép giữa các lần kẹp vạch là 20 vạch chia của bộ đo cực nhỏ, các giới hạn sai số khác áp dụng như giới hạn sai số ở trạm đo thông thường tương ứng với cấp hạng đo. Lần đo về tiến hành vào các buổi khác của ngày. b) Trường hợp không bố trí được như phương pháp 1 thì bố trí như hình 17. M1 và M2 là trạm máy. Cách đo ở trạm máy M1 và M2 tương tự như phương pháp 1. Giá trị chênh cao của hai trạm máy không được chênh nhau quá 10 mm. 9.1.7. Khi sông rộng trên 150 m thực hiện đo cùng một lúc từ hai bờ bằng hai máy và một bộ mia. Cách bố trí đồ hình đo như hình 17, hình 18 hoặc, đồ hình dạng hình thang cân và hình chữ Z như hình 19a và 19b sau đây: 9.1.8. Khi bố trí chỗ đo qua sông phải bảo đảm các điều kiện sau: a) Điều kiện địa hình ở hai bờ giống nhau, sự khác nhau giữa các cạnh vượt sông không được lớn hơn 1% chiều dài. Các cự ly (d) từ máy đến mia không được ngắn hơn 10 m; b. Chỗ đặt máy phải được bạt lớp cỏ ở trên, chân máy phải đặt trên cọc gỗ đã đóng sẵn. Độ cao tia ngắm phải cách mặt nước hơn 3 m và giá trị số đọc trên mia không được nhỏ hơn dưới 1 m. Để nâng cao tia ngắm được đóng cọc gỗ cao và làm bàn đứng ngắm nhưng phải vững chắc; c. Tại điểm đặt đặt mia trong các hình trên có thể chôn cọc xi măng hoặc đóng cọc gỗ. Đường kính của cọc gỗ từ 18 đến 20 cm, dài trên 50 cm, đóng ngập xuống đất khoảng trên 40 cm, ở giữa đỉnh cọc có đóng đinh mũ tròn để đặt mia. Ở vùng đất đá thì dùng cọc sắt; d. Để kiểm tra độ cao các điểm đặt mia cần phải chôn trước loại mốc thường C1, C2 ở vị trí thích hợp gần điểm M1, M2 nhất có nền đất vững chắc và phải vẽ ghi chú điểm. 9.1.9. Đo nối và đo kiểm tra các điểm đặt mia với mốc thường C1, C2 như sau: a) Đo nối: Đo đi: Trước khi bắt đầu đo vượt sông đo theo chiều đo đi từ mốc C1 đến P1 và từ P4 đến C2. Đo về: Sau khi kết thúc đo vượt sông đo theo chiều đo về từ mốc C2 đến P4 và từ P1 đến C b) Đo kiểm tra: Hàng ngày trước khi đo vượt sông phải đo kiểm tra chênh cao hai điểm đặt mia ở cùng bờ. Các hạn sai và cách xử lý trạm máy kiểm tra như đối với trạm nghỉ khi đo đường (điểm 5.4.18 và 6.3.13). Hai giá trị chênh cao đo được của ngày trước và ngày sau so với nhau vượt giới hạn sai và có sự nghi ngờ điểm đặt mia bị chấn động thì tiến hành đo nối trở lại. Khi tính toán phải sử dụng kết quả đo nối phù hợp. 9.1.10. Căn cứ chiều rộng khúc sông, chất lượng máy mia, phương tiện vận chuyển sang sông mà áp dụng một trong ba phương pháp đo sau: a) Phương pháp đo trùng hợp (theo quy định tai phụ lục 28); b) Phương pháp dùng bảng ngắm di động (theo quy định tai phụ lục 29); c) Phương pháp tia ngắm nghiêng (theo quy định tai phụ lục 30); Trong phương pháp a) và b) cũng có thể chọn một trong hai cách bố trí bãi đo như hình 18 hình 19 ở điểm 9.1.7 và cách đo A hoặc B nêu ở phụ lục 28 và 29. 9.1.11. Số lần đo và thời gian đo đối với từng cấp hạng được quy định trong bảng 7. Bảng 7: Quy định số lần đo và thời gian đo chênh cao qua sông hạng I, II Cấp hạng Sông rộng (m) Số lần đo Thời gian đo Phương pháp 1 Phương pháp 2 Phương pháp 3 A B A B A 1 2 3 4 5 6 7 8 I II 150-400 401-1000 > 1000 150-400 401-1000 > 1000 2 1 5 10 15 5 10 15 4 6 3 4 10 15 10 15 4 6 3 4 Sáng + Chiều 2 ngày 3 ngày Sáng + Chiều 2 ngày 2 ngày Ghi chú: Lần sau bắt đầu đo từ bờ sông vừa mới kết thúc lần đo trước. 9.1.12. Trong quá trình đo ngắm phải đảm bảo các các điều kiện sau: - Máy phải được bảo quản tốt, có ô che trong thời gian đo; - Khi chuyển từ bờ này sang bờ bên kia máy phải cho vào hòm, không được để bị chấn động mạnh làm thay đổi vị trí điều quang nếu đo theo cách A; - Bảng ngắm khi di chuyển phải cẩn thận không để va chạm hoặc rơi trong quá trình đo. Đảo ngược bảng ngắm khi đọc số từ thang chính sang thang phụ ở mia xa; - Trong sổ đo phải vẽ sơ đồ vị trí cọc đặt mia, máy của trạm đo và ghi đầy đủ các mục như đã quy định (ghi số hiệu mia vào mốc P1, P4 và hiệu chỉnh số chênh điểm 0 của bộ mia kể cả khi đã đổi mia sau mỗi lần đo); - Mỗi buổi trước khi đo phải hiệu chỉnh ống nước tròn trên mia. 9.1.13. Sự khác nhau giữa giá trị chênh cao của máy, mia thứ nhất và máy mia thứ hai trong cùng một lần đo không được vượt quá 12.S (mm). Sự khác nhau giữa giá trị chênh cao của các lần đo hoàn chỉnh không được vượt quá 8.S (mm). Trong các công thức trên S là chiều rộng sông tính bằng km. 9.1.14. Sai số trung phương của kết quả đo qua sông được tính theo công thức: ; Trong đó: n: là số lần đo V: là số chênh giữa chênh cao một lần so với kết quả trung bình (mm); Sai số này không được vượt quá giới hạn: ±0,6 mm đối với hạng I; ±0,9 mm đối với hạng II. Trong đó L = d + S (đơn vị tính là km). 9.1.15. Trong quá trình đo qua sông nếu kết quả đo vượt giới hạn sai số thì phải đo lại. Nếu số lần đo lại vượt quá ½ tổng số lần đo thì đo lại toàn bộ. 9.1.16. Khi sai số trung phương không thỏa mãn yêu cầu nêu ở 9.1.14 thì đo thêm các lần đo phụ. Tổng số lần đo phụ không được vượt quá 1/3 số lần đo chính. 9.2. Đo qua sông đối với hạng III và IV 9.2.1. Trường hợp sông rộng dưới 100 m trên đường hạng III hoặc dưới 150 m trên đường hạng IV thì việc đo chênh cao được tiến hành đo như trạm máy thông thường. Trường hợp sông rộng quá quy định trên và lợi dụng được cầu để đo đi đo về, so sánh hai kết quả nếu không vượt giới hạn sai số cho phép theo cấp hạng đang đo thì sẽ lấy trung bình và đo tiếp. 9.2.2. Trường hợp sông rộng từ 100-300 m đối với hạng III và 150-300 m đối với hạng IV mà không lợi dụng được điều kiện để đo thông thường thì dùng phương pháp sau đây: Chọn nơi hai bên bờ có điều kiện tương tự như nhau đóng hai cọc gỗ có đường kính 10 cm sâu xuống đất 40 cm, trên đỉnh có đóng đinh mũ tròn, vùng đất chắc thì dùng đinh sắt. Cách cọc khoảng 5 -10 m chọn hai vị trí đặt máy sao cho I1P1 = I2P2 và I1P2 = I2P1 ( xem hình 20); Trước khi đặt máy phải dẫy hết cỏ và đóng cọc để đặt chân máy; Tại trạm máy I1 đưa bọt nước vào vị trí thăng bằng, ngắm mia gần đặt tại P1, đọc số mặt đen và mặt đỏ theo chỉ giữa, sau đó ngắm sang mia P2 và đọc số mặt đen hai lần và mặt đỏ hai lần; Sau khi đo ngắm xong trạm I1 thì chuyển sang trạm I2 của bờ bên kia. Thao tác theo thứ tự ngược lại trạm I1, tức là đo từ mia xa (P1) trước sau đó đo mia gần; Thao tác ở cả hai bờ tạo thành một lần đo, tất cả phải đo hai lần đo và vào các buổi khác nhau của ngày; Nếu có hai máy thì đo đồng thời cùng một lúc từ hai bờ, sau đó hai máy và người đổi chỗ cho nhau, mỗi máy hoàn thành một lần đo. 9.2.3.Trường hợp sông rộng từ 300-600 m trên sông có bãi bồi nổi, đất chắc dùng phương pháp sau: a) Nếu có bãi bồi ở giữa sông đặt được máy thì mia đặt ở hai bên bờ. Tiến hành 8 lần đo theo phương pháp thông thường vào buổi sáng và buổi chiều (mỗi buổi 4 lần đo). Giữa hai lần đo của từng cặp phải thay đổi chiều cao máy và thứ tự ngắm mia. Thí dụ: lần đo thứ nhất ngắm theo thứ tự 1, 2, 2, 1 thì lần đo thứ hai là 2, 1, 1, 2; lần đo thứ nhất và thứ hai tạo thành cặp thứ nhất. Các cặp 2, 3, 4 cũng tiến hành đo như cặp thứ nhất; b) Nếu bãi bồi không đặt được máy thì đóng cọc K để dựng mia. Cách bố trí như hình 21 sao cho: I1P1 = I2P2 từ 5 đến 10 m. I1K = I2K Dùng hai máy đo cùng một lúc. Máy đặt ở I1 ngắm mặt đen mia P1 và đọc số, máy ở I2 ngắm mặt đen mia P1 và đọc số, máy ở I2 ngắm mặt đỏ ở P2 và đọc số; Sau đó máy ở I1 ngắm sang mặt đen mia K đọc số hai lần và máy ở I2 ngắm sang mặt đỏ mia K, đọc số hai lần. Xoay mặt đỏ mia K về phía I1, đọc số hai lần và máy ở I2 cũng đọc hai lần ở mặt đen, quay máy về mia gần, máy I1 đọc ở mặt đỏ P1, máy I2 đọc ở mặt đen P2. Như vậy kết thúc một lần đo. Khi đo xong người và máy đổi chỗ cho nhau và lại tiến hành như trên. Yêu cầu phải đo 4 lần đo. Chênh cao giữa hai điểm P1 và P2 là tổng số của hai giá trị chênh cao của P1-K và K-P2. 9.2.4. Trường hợp sông rộng từ 300-600 m nhưng không có bãi bồi ở giữa thì dùng máy có bộ đo cực nhỏ và bảng ngắm đo theo phương pháp đo trùng hợp, chập vạch đọc mia xa ba lần. Tất cả đo hai lần đo. Bảng ngắm có vạch ngắm trắng hoặc đỏ rộng 0,06.S mm trong đó S là chiều rộng sông tính bằng m. 9.2.5. Trường hợp sông rộng từ 600 m trở lên nằm trên đường hạng III và IV việc xác định chênh cao được tiến hành như phương pháp đo qua sông đối với hạng II. 9.2.6. Giới hạn sai số cho phép khi đo điểm 9.2.2 - 9.2.4 số chênh giữa hai nửa lần đo là 100.S mm. Chênh lệch kết quả giữa hai lần đo (đo đi và đo về) không được vượt quá 8 mm (hạng III) và 16 mm (hạng IV). Khi đo theo tiết a) điểm 9.2.3 thì chênh lệch kết quả giữa hai lần đo trong mỗi cặp không được vượt quá 50.S mm (ở đây S là chiều rộng sông tính đến 0,1 km). Nếu vượt sai số cho phép thì đo lại cặp đó hoặc đo lại một lần đo trong cặp. Khi đo theo mục b) điểm 9.2.3 thì chênh cao giữa hai điểm P1P2 tính từ các lần đo không được vượt quá 8 mm (hạng III) và 16 mm (hạng IV). Nếu kết quả đo không đạt hạn sai thì phải đo lại. 9.2.7. Trong thời gian đo ngắm phải lưu ý các điểm 9.1.3 và 9.1.12. Máy đo qua sông hạng III, IV phải hiệu chỉnh cho góc i ≤ 6”. ...

    Chương 2. Điều 10

    10. Đo chênh cao trong các trường hợp đặc biệt 10.1. Đo nối và đo kiểm tra 10.1.1. Đường độ cao hạng I, II phải đo nối vào mốc cơ bản. Đường độ cao hạng III, IV được đo nối cả vào mốc thường của đường hạng cao hơn. 10.1.2. Khi đo nối đường độ cao hạng I và II mới với đường hạng I và II cũ phải thực hiện đúng theo sơ đồ thiết kế và đã được xác định khi khảo sát, đối chiếu vị trí, số hiệu mốc đo nối. Khi đo kiểm tra phải tiến hành theo quy trình của cấp hạng đường đo nối. 10.1.3. Khi đo kiểm tra một đoạn đo trên đường độ cao hạng I, II cũ thì hiệu giữa hai giá trị chênh cao mới và cũ phải phù hợp với giới hạn sai số dưới đây: a) Khi đo kiểm tra đoạn hạng I với hạng I không được vượt quá ±5 mm. b) Khi đo kiểm tra đoạn hạng II với hạng I hoặc hạng II, không vượt quá ±6 mm; Nếu kết quả đo vượt quá sai số cho phép trên thì phải đo kiểm tra thêm một đoạn kế tiếp để kết luận mốc nào bị dịch chuyển. 10.1.4. Nếu điểm nút là mốc cơ bản thì phải đo nối với các mốc thường cũ chôn gần đây. 10.1.5. Khi đo nối hạng III, IV đến mốc cũ, nếu nghi ngờ vị trí mốc cũ không chắc chắn, thì phải đo kiểm tra đến mốc cũ khác gần đấy. Đo lại trên đoạn cũ theo cấp hạng của đường đo nối. 10.2. Đo ngắm tại các điểm độ cao và các điểm cố định khác 10.2.1. Trước khi đo ngắm trên các điểm độ cao, toạ độ quốc gia hoặc các điểm cố định khác phải đối chiếu tỉ mỉ vị trí, số hiệu và tên của các điểm đó với bản thiết kế và tài liệu ghi chú điểm. 10.2.2. Khi đào và sử dụng mốc phải hết sức cẩn thận không được đụng chạm mạnh vào dấu mốc. Đo ngắm xong phải lấp đất tu sửa bề ngoài của mốc lại như quy định. Nếu địa hình thay đổi nhiều, các vật chuẩn không còn nữa, thì người đo ngắm phải vẽ lại ghi chú điểm. Khi đo trên các điểm độ cao, toạ độ quốc gia và các điểm cố định khác phải tháo vòng chụp đáy mia ra (nếu có) và đặt mia như sau: a) Khi đo ngắm đến mốc cơ bản: đợt đo đầu tiên phải đo chênh cao giữa dấu trên và dấu dưới với độ chính xác 1 mm. Các đợt đo sau đặt mia lên dấu trên, nếu bị hư hỏng thì đặt mia lên dấu dưới; b) Khi đo trên các loại mốc độ cao đều phải dựng mia lên núm dấu mốc hoặc dựng lên đỉnh dấu nếu là dấu chân tường; c) Khi đo trên điểm toạ độ quốc gia, dựng mia lên núm dấu trên, nếu dấu trên bị hư hỏng thì dựng mia lên núm dấu giữa hoặc dưới; d) Khi đo ngắm các điểm cố định khác, dựng mia lên điểm dự định đo độ cao của nó. 10.2.3. Khi đo trên các điểm độ cao, các điểm toạ độ quốc gia hoặc các điểm cố định khác, phải ghi rõ tên điểm, số hiệu và loại mốc của chúng vào số đo đồng thời vẽ sơ đồ vị trí đặt mia và hình chiếu của chỉ giữa trên mia. Khi đo trên điểm tựa của nhiều đường độ cao, ngoài những việc nói trên còn phải vẽ sơ đồ điểm tựa, điểm nút và ghi chú tình hình đo trên điểm đó, tình hình đo kiểm tra theo quy định tai phụ lục 7. 10.2.4. Khi vị trí các dấu mốc gắn tường không đảm bảo cho việc dựng mia thẳng đứng thì dùng bút chì kẻ hình chiếu của ba chỉ nằm ngang của lưới chỉ lên tường, dùng thước thép đo cẩn thận khoảng cách thẳng đứng từ tâm dấu mốc (nơi dựng mia) tới hình chiếu của từng chỉ (đo chính xác tới mm) rồi ghi vào sổ đo. Trong sổ phải vẽ sơ đồ vị trí dấu mốc và hình chiếu của ba chỉ, khi tính chênh cao sử dụng các khoảng cách đó như là số đọc trên mia. 10.2.5. Khi đo trên đường độ cao, nếu người đo phát hiện dấu mốc bị dịch chuyển hoặc bị phá hoại, thì phải báo cáo cho cấp trên biết, đồng thời chôn lại mốc đó ở vị trí cũ. Trường hợp chôn ở vị trí khác thì phải tuân theo các điều nói ở phần chọn điểm, chôn mốc và vẽ lại ghi chú điểm. Tốt nhất nên gắn dấu mốc vào vật kiên cố để mốc chóng cố định. Trường hợp cá biệt có thể bỏ qua mốc bị mất nếu khoảng cách giữa hai mốc gần nhất nhỏ hơn 6 km ở đồng bằng và 8 km ở miền núi. ...

    Chương 2. Điều 11

    11. Ghi chép, chỉnh lý thành quả ngoại nghiệp 11.1. Tất cả các số đọc từ máy, từ các bộ phận kiểm nghiệm là số liệu gốc. Các số liệu gốc phải ghi ngay vào sổ hoặc bảng biểu đã qui định bằng bút chì thường hoặc bút mực. Không được dùng các loại mực hóa học để ghi số liệu gốc. Tất cả các chữ số ghi chép ở các sổ phải rõ ràng, sạch sẽ, không được tẩy xóa, viết đè chữ số. Sổ đo phải đánh số trang, ký tên và đóng dấu. Nghiêm cấm xé sổ và sao chép thành quả gốc. 11.2. Số đọc hàng cm, mm tuyệt đối không được sửa chữa, gạch, tẩy, xóa. Số đọc hàng m, dm nếu đọc nhầm phải gạch cẩn thận, viết số đúng lên phía trên và phải ghi chú lý do cụ thể và cần lưu ý các điểm sau: a) Trên một mia không được chữa hai trong ba số đọc chỉ trên, giữa, dưới của mặt đen (thang chính) hoặc hai số đọc của chỉ giữa mặt đen và đỏ (thang chính và thang phụ); b) Trên một trạm máy không được chữa từ ba số đọc trở lên.; c) Các số liệu gốc và các số tình toán nếu sai thì gạch bỏ (không được làm bẩn, mờ những số cũ) và viết số đúng lên trên. 11.3. Các kết quả đo đi, đo về của hạng I và II phải ghi riêng vào hai quyển sổ đo, nhưng đối với hạng III, IV có thể ghi chung vào một quyển. Nếu phải ghi tiếp sang sổ khác cần phải ghi rõ ở trang cuối của quyển trước “xem tiếp trang… quyển …” và ở trang đầu quyển sau ghi “tiếp theo trang … quyển …”. Kết quả đo của đường rẽ nhánh phải được ghi vào quyển sổ riêng. 11.4. Khi đo ngắm bằng máy có bộ đo cực nhỏ, thì đọc số và ghi đến phần chẵn của vạch khắc. Còn máy thông thường thì ước đọc và ghi đến 0,1 vạch khắc của mia. 11.5. Các trạm đo lại vẫn lấy số thứ tự của trạm cũ, nhưng phải viết thêm chữ “đo lại” ở bên cạnh. Các trạm bỏ phải gạch đi và ghi chú nguyên nhân sai. 11.6. Các tài liệu đo ngắm phải được chỉnh lý đầy đủ, sạch đẹp theo mẫu. ...

    Chương 2. Điều 12

    12. Tính toán khái lược 12.1. Quy định chung 12.1.1. Nhiệm vụ của công tác tính toán khái lược là đưa các số hiệu chỉnh cần thiết vào kết quả chênh cao đo được và đánh giá độ chính xác kết quả đo. 12.1.2. Nội dung công tác tính toán khái lược bao gồm: - Kiểm tra và tính toán các số đọc đã ghi trong các số đo; - Tính các số hiệu chỉnh chênh cao cho từng đoạn; - Lập các bảng tính toán chênh cao và độ cao khái lược; - Vẽ sơ đồ lưới độ cao của toàn khu đo. Trong mỗi vòng khép kín hoặc hở đều ghi trị giá không phù hợp và giới hạn sai số cho phép. Trong quá trình tính toán phải kiểm tra trị số không phù hợp khi đo đi đo về của các đoạn, sai số khép chênh cao giữa hai điểm hạng cao, sai số khép vòng, sai số trung phương ngẫu nhiên và sai số hệ thống trên 1 km (chỉ áp dụng khi đo chênh cao hạng I, II). 12.1.3. Khi tính toán khái lược các số được làm tròn theo chỉ dẫn trong bảng 8 dưới đây: Bảng 8: Quy định làm tròn số khi tính toán khái lược Cấp hạng Chênh cao tại mỗi trạm đo mm Chênh cao giữa các mốc lâu dài mm Chênh cao trung bình giữa đo đi và đo về mm Độ cao khái lược mm I 0,05 0,05 0,01 0,1 II 0,05 0,05 0,1 1,0 III 0,1 1,0 1,0 1,0 IV 1,0 1,0 1,0 1,0 12.1.4. Độ cao khởi tính phải sao chép trực tiếp vào bảng tính chênh cao khái lược bằng mực đỏ. Các số liệu này phải được kiểm tra lại một lần nữa trước khi tính. Các số tính toán nếu sai được gạch bỏ và viết số đúng lên trên như quy định tại điểm 11.2. 12.2. Quy định tính toán chênh cao khái lược hạng I, II 12.2.1. Các số đo chênh cao và các bảng tính toán chênh cao khái lược phải được 2 người tính riêng biệt (trừ bước ở tổ) sau đó so sánh kết quả với nhau. 12.2.2. Bảng tính chênh cao khái lược hạng I thực hiện theo quy định tại phụ lục 31, hạng II thực hiện theo quy định tại phụ lục 32. - Số hiệu mốc và dấu mốc lấy từ số đo chênh cao và kiểm tra theo bản ghi chú điểm. - Khoảng cách giữa các mốc lấy từ sổ đo và lấy tròn số đến 0,1 km. - Số hiệu chỉnh mia phải được cộng vào giá trị chênh cao trung bình của từng đoạn đo đi và đo về (nếu là hạng I) và được cộng vào giá trị chênh cao của từng đoạn đo đi và đo về (nếu là hạng II và III). - Số hiệu chỉnh độ cao chuẩn hoặc độ cao gần đúng phải được cộng vào giá trị chênh cao trung bình của đo đi và đo về. Sau khi đã đưa tất cả các số hiệu chỉnh vào giá trị chênh cao thì mới tính sai số khép đường hoặc khép vòng. Nếu đạt giới hạn sai số mới phân phối sai số khép. 12.3. Quy định tính toán chênh cao khái lược hạng III, IV Cách tính toán chênh cao khái lược thực hiện theo quy định tại phụ lục 33, nếu là độ cao khái lược các mốc rẽ nhánh thực hiện theo quy định tại phụ lục 34. Cách tính các số hiệu chỉnh thực hiện theo quy định tại phụ lục 3. 12.4 Quy định kỹ thuật tính toán bình sai mạng lưới I, II, III và IV 12.4.1 Khi tính toán bình sai mạng lưới độ cao cần phải thực hiện các quy định sau: a) Thu thập, đánh giá tài liệu đo độ cao trên cơ sở sai số khép đường độ cao không được vượt quá giới hạn cho phép sau đây (đơn vị là mm): - Đối với đường độ cao hạng I: sai số khép cho phép Wcf =±2 - Đối với đường độ cao hạng II: sai số khép cho phép Wcf =±4 - Đối với đường độ cao hạng III: sai số khép cho phép Wcf =±10 - Đối với đường độ cao hạng IV: sai số khép cho phép Wcf =±20 - Đối với các đường độ cao tạo bởi các cấp hạng khác nhau thì sai số khép cho phép Wcf được tính như sau: Trong đó L là chiều dài đường hoặc vòng khép tính theo đơn vị là km. b) Tiến hành tính toán khái lược toàn bộ các đường đo; c) Tính số cải chính độ cao chuẩn cho tất cả các đoạn đo độ cao và chuyển độ cao đo được về hệ độ cao chuẩn; e) Thực hiện bình sai và đánh giá độ chính xác của mạng lưới theo phương pháp bình phương nhỏ nhất; f) Biên tập chỉnh lý thành quả và hệ thống hóa tài liệu; g) Lập bảng thành quả độ cao sau bình sai; h) Báo cáo thuyết minh kỹ thuật kết quả bình sai. 12.4.2 Tính toán khái lược độ cao là tìm các giá trị chênh cao giữa các dấu mốc và đánh giá chất lượng đo, tính toán khái lược gồm các công việc sau: - Kiểm tra sổ kiểm nghiệm máy và mia; - Kiểm tra sổ đo ngắm ngoại nghiệp; - Lập bảng tính chênh cao và độ cao các điểm; - Đánh giá chất lượng đo độ cao theo hiệu chênh cao đo và sai số khép của các vòng khép; - Lập và vẽ sơ đồ đường độ cao (hoặc lưới độ cao). - Việc tính toán bình sai độ cao hạng I, hạng II và hạng III thuộc vùng núi và núi cao chỉ tiến hành khi đã đưa số cải chính vào chênh cao và hiệu độ cao chuẩn. Chênh cao đã được cải chính khi bình sai có thể coi là các trị đo trực tiếp. 12.5. Quy định về công tác kiểm tra nghiệm thu 12.5.1. Đơn vị thi công công trình, sản phẩm tổ chức thi công, kiểm tra và nghiệm thu chất lượng của tất cả các hạng mục công trình, sản phẩm theo đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật được quy định tại quy chuẩn kỹ thuật này. 12.5.2. Trường hợp có thay đổi về giải pháp kỹ thuật công nghệ khi thi công thì đơn vị thi công phải báo cáo kịp thời với chủ đầu tư và chỉ được thực hiện sau khi chủ đầu tư hoặc cơ quan quyết định đầu tư trả lời cho phép thay đổi bằng văn bản. 12.5.3. Cơ quan thẩm định chất lượng của chủ đầu tư tiến hành kiểm tra, thẩm định đánh giá chất lượng các hạng mục công trình, sản phẩm theo các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định tại quy chuẩn kỹ thuật này. 12.5.4. Trong quá trình kiểm tra nếu cơ quan thẩm định chất lượng phát hiện đơn vị thi công vi phạm nghiêm trọng các tiêu chuẩn, quy định về kỹ thuật thì phải kiến nghị Chủ đầu tư quyết định đình chỉ thi công, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ công trình, sản phẩm đã thi công. 12.6. Tổng kết kỹ thuật và giao nộp sản phẩm 12.6.1. Sau khi kết thúc công trình phải làm báo cáo tổng kết kỹ thuật theo đề cương theo quy định tại phụ lục 33. 12.6.2. Các sản phẩm của công trình đều phải được kiểm tra, nghiệm thu các cấp theo trình tự, nội dung theo quy định hiện hành. 12.6.3. Sản phẩm của các hạng mục công trình do các đơn vị làm ra đều phải giao nộp theo đúng quy định gồm có: a) Tài liệu đo chênh cao: - Các sổ đo đã được kiểm tra và nghiệm thu của các cấp; - Tài liệu kiểm nghiệm máy, mia; - Ghi chú điểm độ cao; - Hồ sơ xây dựng mốc; - Bảng tính chênh cao khái lược; - Đồ thị và bảng tính đánh giá độ chính xác; - Sơ đồ tính khép đường, khép vòng toàn lưới; - Các sơ đồ đường và lưới độ cao trên bản đồ tỷ lệ 1:100.000 đến 1:200.000; - Bảng thống kê các điểm độ cao, các điểm cố định đã chọn và đo; - Các văn bản giải quyết về kỹ thuật; - Báo cáo tổng kết kỹ thuật; - Báo cáo thẩm định chất lượng công trình sản phẩm; - Đĩa CD ghi các tài liệu trên ở dạng số. b) Tài liệu đo qua vật chướng ngại: - Sổ ghi kết quả đo và các bảng tính; - Tài liệu kiểm nghiệm máy, mia; - Sơ đồ bãi đo qua sông và sơ đồ đo nối; - Tổng kết kỹ thuật; Tất cả các tài liệu giao nộp phải có tên và chữ ký của người đo ngắm, người tính toán và ngày tháng hoàn thành. Cuối cùng có chữ ký đóng dấu của thủ trưởng đơn vị trực tiếp chỉ đạo thi công. ...

    Chương 3. Điều 1

    Phần III. CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ 1. Bộ Tài nguyên và Môi trường giao Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam là cơ quan cao nhất đánh giá, thẩm định chứng nhận hợp quy các sản phẩm thuộc Lưới độ cao quốc gia hạng I, II, III, IV của quy chuẩn kỹ thuật này. ...

    Chương 3. Điều 2

    2. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam chỉ định cơ quan kỹ thuật chuyên môn để kiểm tra chứng nhận hợp quy các sản phẩm của lưới độ cao Quốc gia hạng I, II, III, IV. ...

    Chương 4. Điều 1

    Phần IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ, các tổ chức cá nhân liên quan đến hoạt động xây dựng lưới độ cao quốc gia tuân thủ các quy định tại quy chuẩn kỹ thuật này. ...

    Chương 4. Điều 2

    2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc cần kịp thời phản ảnh về Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường để phối hợp xem xét, giải quyết./. ...

    Quy định về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng lưới độ cao, QCVN 11:2008/BTNMT

    Ký hiệu 11/2008/QĐ-BTNMT Lĩnh vực Đo đạc và bản đồ
    Loại văn bản Quyết định Thủ tướng CP Người ký Nguyễn Văn Đức
    Cơ quan ban hành Bộ Tài nguyên và Môi trường Ngày ban hành 18-12-2008
    Ngày có hiệu lực 20-01-2008 Còn hiệu lực? có hiệu lực